Xóa đói giảm nghèo

Xóa đói giảm nghèo nhờ nuôi rắn, trong khi hàng trăm nhà hàng mỗi ngày lấy rắn làm món ăn đặc sản thì có không ít nơi lại coi đây là con vật giúp họ “xóa đói giảm nghèo”. Hơn thế nuôi rắn còn là việc làm có ý nghĩa sâu xa nhằm bảo vệ sự cân bằng sinh thái đối với môi trường sống. Đầu xuân Tân Tỵ chúng tôi đã có dịp đến thăm một làng rắn như vậy…
Từ chuyện nuôi rắn… Làng Vĩnh Sơn thuộc huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc là nơi có nghề nuôi rắn nổi tiếng từ nhiều năm nay. Theo lời chỉ dẫn của anh Thanh, cán bộ xã Vĩnh Sơn, chúng tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Văn Hoa, một gia đình nuôi rắn với số lượng lớn ở trong làng.
“Chuồng rắn” của gia đình ông rộng chừng 40 m2 có tường, lưới bao quanh bao xung quanh, được xây dựng như hình một chiếc lều hai đầu có hai lỗ hổng. Phải cúi khom người xuống chúng tôi mới nhìn thấy hàng trăm con rắn được nuôi tập trung ở đây.
Ông Hoa kể: “Nhà tôi có nghề nuôi rắn hổ mang hơn chục năm nay, chủ yếu là nuôi rắn hổ mang thường. Nghề này tuy không nhỏ nhưng yêu cầu người nuôi phải thực hiện theo đúng quy trình kỹ thuật từ khi rắn còn bé đến lúc rắn trưởng thành. Tháng 6 bắt đầu là mùa sinh sản của rắn. Rắn còn con sau khi nở được đưa vào nuôi tập trung. Sau thời gian từ 6 đến 7 tháng, khi rắn đã lớn chuyển thành sang nuôi riêng mỗi con một ổ. Các ổ này được xây dựng kiểu hầm liền nhau, sâu từ 40 đến 50 cm, có nắp đậy. Cứ nuôi như vậy cho đến năm thứ 2 mới thành rắn thương phẩm”.
Ông Hoa còn cho biết thêm, làm nghề này tương đối nhàn hạ, mỗi ngày chỉ mất khoảng 1 đến 2 tiếng cho rắn ăn và vệ sinh chuồng trại. Thức ăn chủ yếu của rắn là chuột và cóc nên rất dễ mua.
So với nhiều nghề chăn nuôi khác, nghề nuôi rắn tuy không mất nhiều thời gian và công sức để chăm sóc nhưng lại mang tính chất nguy hiểm bởi chủ nuôi trong khi bắt hoặc cho rắn ăn nếu sơ ý rất có thể bị rắn cắn. Gặp những khi thời tiết không thuận hoặc chăm sóc không tốt rắn rắn rất dễ dễ có thể bị mắc bệnh, chết hàng loạt và chủ nuôi cùng bị mất trắng. Nhưng ngược lại nếu “thuận buồm xuôi gió” thì như nhận xét của ông Hoa – “đây thực sự là một nghề xóa đói giảm nghèo”!
… Đến việc phát triển kinh tế nhờ có nghề. Trong ngôi nhà mái khang trang với đầy đủ tiện nghi, anh Chu Đức. Tiếp, một người nuôi rắn của Vĩnh Sơn khoe: “ Có được những thứ này là nhờ rắn đấy!”. Anh cho biết gia đình tôi bắt đầu nuôi rắn từ năm 1991 cho đến nay. Lúc đầu cũng chỉ nuôi theo kiểu “tính công điểm” cho trại rắn của xã. Khi trại rắn giải thể mới chuyển sang nuôi theo mô hình gia đình. Hiện nay với 100 đầu rắn, bán với giá 200.000 đ/ kg, thì trừ tất cả chi phí chăn nuôi , gia đình thu lãi được từ 10 đến 15 triệu đồng/ năm.
Vĩnh Sơn là một làng quê nghèo, thuần nông của tỉnh Vĩnh Phú, từ khi có nghề nuôi rắn bộ mặt làng quê đã hoàn toàn thay đổi. Ông Nguyễn Văn Quyết, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Vĩnh Sơn cho biết: “ Năm 1979, làng Vĩnh Sơn xây dựng một trại nuôi rắn rộng 2,3 ha chuyên nuôi rắn sinh sản, là nguồn cung cấp rắn cho người dân. Từ năm 1993, trại rắn không hoạt động nữa chuyển về chăn nuôi theo quy mô các hộ gia đình. Việc nuôi rắn theo quy mô gia đình vừa dễ chăm sóc, không phải đầu tư lớn mà hiệu quả cũng cao hơn. Hiện nay 100% hộ nông dân đều nuôi rắn, trong đó 75% hộ nuôi theo số lượng lớn. Một năm toàn xã xuất khẩu khoảng 10 tấn rắn cung cấp cho các thị trường Hà Nội, Quảng Ninh, Tuyên Quang, và bán sang Trung Quốc. Từ nghề nuôi rắn này, chúng tôi đã giải quyết việc làm cho 2.500 lao động địa phương, đồng thời tăng thu nhập cải thiện đời sống của người dân. Năm 1996, cả xã mới có 2 máy điện thoại đến năm 2000 trung bình cứ 54 người có 1 máy, 7 người có 1 tivi màu.
Ông chủ tịch ủy ban nhân dân xã Vĩnh Sơn cho biết: “Theo cơ sở pháp lý, các hộ gia đình nuôi rắn đều phải đăng ký, nhưng thực ra đây là một làng nghề, nên chúng tôi cũng tạo điều kiện để người dân phát triển kinh tế”. Bằng cách trả lời của ông Quyết và qua thực tế tìm hiểu chúng tôi được biết hiện vẫn có một số gia đình nuôi rắn mà chưa đăng ký với xã.
Không chỉ riêng Vĩnh Sơn, hiện nay ở một số địa phương như làng Lệ Mât (Gia Lâm, Hà Nội), hay tại các huyện Thanh Bình, Tam Nông (tỉnh Đồng Tháp) nghề nuôi rắn cũng đang phát triển đưa đời sống người dân đi lên.
Tuy nhiên, bên cạnh việc khuyến khích tạo điều kiện cho bà con phát triển nghề, cần có sự quản lý chặt chẽ hơn để góp phần bảo tồn rắn tự nhiên, làm câ bằng sinh thái, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật của Nhà nước.
Tơ hồng
Theo câu quan họ tôi tìm
Không lời hẹn, vẫn cứ lên với người
Nón quai thao gặp đầy rắc rối!
Vành trăng che nửa nụ cười trao duyên…
Tôi về đây với Hội Lim
Qua cầu muốn lội xuống tìm ca dao
Áo tứ thân chợt thoáng qua
Đã nghe thấy nhịp đạm đà trống Cơm.
Gặp người, chưa kịp làm quen
Liền anh bỗng tới kéo liền chị đi!
Sông Cầu ghen – sóng thầm thì
Mái chèo khua, dáng thuyền đi nhạt nhòa…
Trách gì con nhện thoáng qua
Tơ chăng mỏng mảnh gió lùa tơ bung!
Trống Cơm ai vỗ bập bùng,
Áo tứ thân chắc ướt đẫm như mưa?
Hội Lim có tự ngàn xưa
Về đây vẫn thấy bất ngờ – hội Lim
Vịn câu quan họ tôi tìm
Người ơi có hẹn tôi lên? Một ngày
Xuân Thùy – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

El Nino và tác động của nó đến du lịch

El Nino (tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là chúa Hài Đồng), là tên mà những thủy thủ Pểu đặt cho hiện tượng dòng nước ấm chảy về phía Nam ngoài khơi bờ biển Pêru, Êcuađo, thường bắt đầu từ khoảng lễ Thiên Chúa Giáng Sinh, gây nên những dị thường về khí hậu, thời tiết và tài nguyên vùng bờ Đông Thái Bình Dương, như mưa lớn trong vùng núi cao, hoang mạc và sản lượng cá trỗng trên biển cũng như số lượng chim trên các đảo khu vực giảm mạnh. Ngoài ra, giữa các kỳ El Nino trong khu vực thường xảy ra hiện tượng La Nina, gây khô hạn nghiêm trọng những vùng vốn khan hiếm nước trong khu vực.
Sau đó, các nhà khoa học nhận thấy El Nino và La Nina có mối liên hệ nội tại với các hoàn lưu khí quyển cầu và các nhiễm loạn của dao động Nam Bán cầu (gọi tắt là SO), gây biến động thời tiết, khí hậu các nước trong và ven biển Thái Bình Dương. Do đó người ta sẽ đặt cho toàn bộ quá trình một cặp tên chung: ENSO nóng là El Nino va Dao sông Nam, còn ENSO lạnh là La Nina và Dao động Nam. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người ta vẫn quen dùng thuật ngữ El Nino và La Nina hơn.
Trước đây, El Nino chỉ gây biến động thời tiết khu vực ven bờ Thái Bình Dương. Nhưng hai kỳ El Nino cuối đã gây ra những biếng động khí hậu quy mô toàn cầu. Diễn biến một kỳ El Nino trước đây chỉ vài tháng, nay kéo dài hàng năm. Hệ quả của El Nino là không thể tính được hết, đặc biệt là khi nó cộng hưởng với những nhiễu động thời tiết khu vực khác. Người ta có ý cho rằng sự gia tăng quy mô không gian và thời gian của thảm họa El Nino có liên quan với sự nóng lên của trái đất và là một bộ phận của biến đổi khí hậu toàn cầu.
Dấu hiệu đầu tiên để nhận biết El Nino sắp xuất hiện là nhiệt độ mặt nước biển Thái Bình Dương nóng lên. Trong giai đoạn từ 1950 – 2000 người ta sẽ quan sát được 14 lần El Nino và 10 lần La Nina 1998- 2000 đi kèm ngay sau El Nino 1997 – 1998 là một La Nina dài nhất. Những năm xảy ra El Nino gần đây là 1925, 1930, 1941- 1942, 1972 – 1973, 1976 – 1977, 1982 – 1983, 1997 – 1998, trong đó El Nino cuối cùng được ghi nhận là El Nino mạnh nhất.
Bức tranh toàn cảnh về El Nino trong những năm gần đây biểu hiện sự giảm going bão, giáng thủy ở vùng lân cận Nam Mỹ, Đông Nam Á, Bắc Australia, gây hạn dị thường ở một số khu vực như Bắc Australia, Inđônêxia, Philippin. Trong khi đó, dải đất hoang mạc duyên hải Pêru và vùng núi Anđet lại mưa lớn gây ra nhiều thảm họa như lũ quét, trượt đất dữ dội: Bão nhiệt đới rất mạnh đổ bộ vào vùng Bắc Mỹ, vùng biển các bang miền Tây Mêhicô và nước Mỹ nóng lên, xuất hiện những trận mưa lũ vào lúc đáng lẽ nơi đây phải là mùa đông tuyết phủ. Tất cả những bất thường của thời tiết ấy đã gây nên nhiều hệ quả tai hại cho thiên nhiên môi trường nói chung và cho kinh tế xã hội nói riêng.
Theo những nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc tổng cục Khí tượng Thủy văn Việt Nam, trong thời kỳ El Nino, tần số bão đổ bộ vào Việt Nam giảm, mùa nóng dài hơn bình thường, nhiệt độ không khí (rõ rệt nhất là ở vùng phía Nam?) mùa mưa ngắn, bắt đầu chậm, kết thúc dơm, lượng mưa các tháng bắt đầu giảm, nhất là vùng Bắc Trung Bộ. Do vậy hạn hán nghiêm trọng xảy ra thường xuyên trong thời kỳ El Nino, gây hệ quả xấu cho các hệ sinh thái tự nhiên và tổn hại nghiêm trọng cho nền kinh tế. Chỉ tính riêng trong El Nino 1997- 1998, hạn hán đã gây thiệt hại cho nền kinh tế nước ta tới 5.000 tỷ đồng.
Du lịch là một ngành kinh doanh nhạy cảm với các biến đổi khí hậu thời tiết và hệ quả của nó. Trong thời kỳ El Nino, sự giảm số cơn bão đổ bộ vào Việt Nam, tăng số ngày nắng, giảm lượng mưa và thời gian mưa rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tăng nhu cầu du lịch, góp phần tăng khả năng thỏa mãn tâm lý khách trong khi đi du lịch. Trong khi đó, thời tiết quá nóng, tổn thất kinh tế do hạn hán, suy thoái môi trường do cạn kiệt tài nguyên nước sạch, suy thoái hệ tinh thái tự nhiên lại có thể làm những tác nhân tiêu cực tới quá trình kích cầu du lịch. Theo ông Bùi Xuân Thông, Tiến sĩ, Phó giám đốc trung tâm khí tượng thủy văn biển: “Hiện nay, Viện khí tượng thủy văn đang nghiên cứu sẽ nhanh chóng thông báo diễn biến của hiện tượng để các ngành nói chung và du lịch nói riêng nắm bắt và phòng chống kịp thời những biến động El Nino nhằm giảm bớt những thiệt hại đáng kể.
Hội chợ đầu tư APEC lần thứ hai.
Hội chợ đầu tư APEC lần thứ hai với chủ đề “ Đầu tư vào Châu Á – Thái Bình Dương, đầu tư vào tương lai” sẽ được tổ chức từ 6 – 15/6/2001 tại Yên Đài, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. 21 thành viên APEC sẽ tham gia hội chợ với 4 nội dung chính: Hội thảo về chính sách đầu tư, diễn đàn các cấp các nhà doanh nghiệp APEC , đàm phán về hợp tác đầu tư, triển lãm nhằm giới thiệu môi trường, chính sách và các hạng mục đầu tư. Đoàn Việt Nam dự hội chợ đầu tư APEC gồm các đại diện Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ thương mại, tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Quảng Ninh và sở Công nghiệp Hà Nội.
Hoàng Thu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Các loại biển báo hiệu đường bộ

Điều lệ báo hiệu Đường bộ ban hành kèm theo Quyết định số 3485/KHKT ngày 12/11/1984 của Bộ Giao thông vận tải quy định có 6 loại biển báo hiệu như sau:
Loại biển báo nguy hiểm:
Hình tam giác đều, viền đỏ, nền vàng, hình vẽ màu đen chỉ rõ tính chất nguy hiểm ở phía trước cần phòng ngừa và xử trí theo tình huống.
Loại biển này dùng để báo cho người sử dụng đường, đặc biệt những người lái xe biết sự cố nguy hiểm trên đường để đề phòng những tai nạn có thể xảy ra. Gặp biển báo nguy hiểm, người lái xe phải giảm tốc độ, chú ý quan sát và chuẩn bị sẵn sàng xử trí những tình huống có thể xảy ra để phòng tai nạn trên đường.
Loại biển báo cấm:
Có dạng hình tròn (trừ kiểu biển số 222 “STOP” có hình 8 cạnh đều) nhằm báo điều cấm hoặc hạn chế mà người sử dụng đường phải tuyệt đối tuân theo. Hầu hết các biển có viền đỏ, nền màu trắng, trên nền có hình vẽ màu đen đặc trưng cho điều cấm hoặc hạn chế sự đi lại của các phương tiện cơ giới, thô sơ và người đi bộ.
Biển có hiệu lực bắt đầu từ chỗ đặt biển trở đi. Trường hợp phía dưới biển có đặt biển 502 (khoảng cách đến đối tượng báo hiệu) thì hiệu lực của biển từ sau khoảng cách ghi trên biển phụ.
Loại biển hiệu lệnh:
Hình tròn, nền xanh lam, hình vẽ nền màu trắng, báo cho người tham gia giao thông biết hiệu lệnh phải thi hành, tuân theo sự chỉ định về hướng xe đi, về, loại xe hoặc người đi bộ được đi qua và về tốc độ xe tối thiểu.
Loại biển chỉ dẫn:
Hình chữ nhật hoặc hình vuông, nền màu xanh lam, hướng dẫn người tham gia giao thông về những điều cần thiết, đồng thời có tác dụng giúp cho việc điều khiển và hướng dẫn giao thông trên đường được thuận lợi, đảm bảo an toàn chuyển động.
Loại biển phụ:
Hình chữ nhật hoặc hình vuông, nền trắng, viền đen, ký hiệu và màu chữ đen. Biển này đặt kèm theo biển báo nguy hiểm, báo cấm, báo hiệu lệnh, chỉ dẫn để bổ sung ý nghĩa của biển.
Loại biển viết chữ:
Hình chữ nhật, màu xanh lam, chữ màu trắng hoặc nền đỏ chữ màu trắng để chỉ dẫn, báo hiệu lệnh đối với người đi bộ và điều khiển xe thô sơ.
Chuẩn bị cho du lịch xuyên rừng
Chuẩn bị cho du lịch xuyên rừng (như chinh phục rừng Quốc gia Cúc Phương, rừng Quốc gia Ba Vì, rừng Quốc gia Cát Bà) bạn không nên trang phục áo, váy rộng. Tốt nhất nên mặc quần Jean, quần kaki có túi ở bên hông. Trong túi nên đem theo một lát gừng và một chai giấm nhỏ, phòng khi bị cảm hoặc bị xước da, dùng gừng giã nhỏ, chắt nước bôi vết thương hoặc uống một hớp chống xây xẩm mặt mày, cảm gió. Nếu thấy nôn nao hoặc đau bụng, pha một thìa giấm vào nước sôi uống sẽ đỡ đau và dễ chịu.
Nếu muốn mua quần jean và túi ngủ, nên mua ở phố Hai Bà Trưng vải bò ngoại (do thợ Sài Gòn may) giá 65.000đ – 85.000đ/c. Quần Jean của Trung Quốc mua ở phố Hàng Đào, Hàng Đường 55.000 – 110.000đ/c, quần Jean của Hàn Quốc 145.000đ – 210.000đ/c. Nếu mua túi ngủ đơn bằng lụa tơ tằm pha sợi tổng hợp (màu mận, màu xanh, tím than) giá 105.000đ/c, còn túi ngủ đôi giá 165.000đ/c. Bạn có thể tìm mua ở Hợp tác xã Vạn Phúc – thị xã Hà Đông (cách 1,5km) ven sông Nhuệ.
Công ty du lịch dịch vụ dầu khí việt nam: đại hội đại biểu công nhân viên chức năm 2001
Ngày 27/4/2001, tại Vũng Tàu, Công ty Du lịch Dịch vụ Dầu khí Việt Nam đã mở đại hội đại biểu công nhân viên chức năm 2001. Dự đại hội có 119 đại biểu thay mặt cho gần 2000 Cán bộ công nhân viên toàn Công ty.
Năm 2000, Công ty thực hiện tổng doanh thu 363 tỷ đồng, bằng 115,9% kế hoạch, trong đó, khối trực thuộc đạt 190 tỷ đồng bằng 117% kế hoạch, khối liên doanh và Công ty cổ phần đạt 173 tỷ đồng bằng 116,10% kế hoạch. Nộp ngân sách cho Nhà nước 37,1 tỷ đồng, bằng 125,58% kế hoạch. Thu nhập bình quân của người lao động đạt 960.000 đồng/người/tháng. Công suất phòng đạt 51,6%, tăng 5,03% so với năm 1999. Kinh doanh dịch vụ dầu khí có mức tăng trưởng cao. Năm 2001, Công ty phấn đấu tăng 10% doanh thu so với năm 2000, nộp ngân sách 45 tỷ đồng, cơ sở vật chất được đổi mới và phát triển theo yêu cầu sản xuất kinh doanh bảo toàn và phát triển vốn, cải thiện đời sống Cán bộ công nhân viên.
Hải dương: lượng khách du lịch tăng 19,8%
Tính đến cuối tháng 4/2001, Hải Dương đã thu hút được 35.000 lượt khách, tăng 19,8% so với cùng thời gian năm 2000. Trong đó khách trong nước là 30.269 lượt, tăng 39%, khách nước ngoài là 5.200 lượt, tăng 2%. Số ngày khách lưu trú đạt 36.092, tăng 22%; Nộp ngân sách trên 20 triệu đồng.
H.V.H – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 18(181)2001

Côn đảo – thiên đường du lịch phương đông – Phần 2

Hơn nữa, đảo chỉ cách đất liền khoảng 95 hải lý (180 km) nhưng phương tiện vận chuyển cho du khách đến với đảo là điều cần quan tâm. Nếu sử dụng đường hàng không với 50 phút đi bằng máy bay trực thăng có sức chở 24 người, thì việc đăng ký chuyến bay rất khó (3 chuyến/tuần) và giá vé (500.000 đ/lượt) lại nằm ngoài tầm tay của nhiều cư dân và du khách quốc tế đang sinh sống, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh muốn đi nghỉ cuối tuần tại Côn Đảo. Còn phương tiện đường thủy, việc đưa tàu Côn Đảo 9, trang bị khá tốt tiện nghi phục vụ, có sức chứa 250 người khởi hành từ Sài Gòn là sự cố gắng lớn của những nhà quản lý. Tuy nhiên, với 30 tiếng nằm trên tàu (cả lượt đi, về) nhưng thiếu phương tiện giải trí, các dịch vụ hỗ trợ, dễ gây tâm lý nhàm chán cho du khách, đồng nghĩa với việc nhà đầu tư lại mất cơ hội thu lại nguồn thu nhập đáng kể từ việc khai thác lĩnh vực F&B (thức ăn và đồ uống) cao cấp, bởi lẽ khách du lịch lúc nào cũng muốn chi tiêu những khoản ngân sách đã được định sẵn trong kế hoạch chuyến đi của mình. Người viết bài rất chia sẻ với tâm sự của ông Ninh, khi thời gian cho ra đời một chiếc tàu đã mất 1 năm với vốn đầu tư khoảng 14 tỷ đồng, mà sau một năm đưa vào sử dụng đã thấy lạc hậu về công nghệ. Thế nhưng, mục đích của tàu trong tuyến Côn Đảo là phục vụ hầu hết cho đối tượng khách du lịch. Vì thế, nên chăng có sự tham gia của ngành Du lịch trong việc khai thác loại hình vận chuyển này?! Mặt khác, hệ thống lưu trú tại đảo lại không đáp ứng được nhu cầu phục vụ trong những đợt cao điểm với đoàn có số lượng lên đến 200 khách. Mặc dù có 3 doanh nghiệp (ATC, Saigon Tourisr, Phi Yến) cùng tham gia vào kinh doanh lĩnh vực này nhưng cũng chỉ đạt được số phòng tiêu chuẩn ở mức 35 và 100 giường tập thể… Theo nhiều nhà kinh doanh lĩnh vực này thì thủ tục về nhà đất là yếu tố gây trở ngại chính cho vấn đề mở rộng.
Những ngày chúng tôi ở Côn Đảo cũng là lúc đoàn công tác của Bộ Văn hóa – Thông tin ra khảo sát hệ thống di tích lịch sử nhà tù Côn Đảo để kịp hoàn thành dự án phục hồi với vốn đầu tư lên đến 60 tỷ đồng. Ngoài ra, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũng thông qua quy hoạch để biến Vườn quốc gia Côn Đảo thành khu du lịch sinh thái: Dự án nâng cấp sân bay Cỏ Ống, đáp ứng phục vụ được loại máy bay ART với giá vé 300.000đ/lượt cũng được Tổng Công ty Hàng không Việt Nam tiến hành khảo sát. Như thế, triển vọng Côn Đảo trở thành một khu du lịch phức hợp với nhiều lợi thế khai thác từ du lịch biển, với những bãi biển cát trắng trải dài dưới mặt nước xanh màu ngọc bích tĩnh lặng, có những rặng san hô tuyệt đẹp và loài bò biển (loài động vật được xếp vào sách đỏ thế giới), rừng với hệ động thực vật nguyên sinh và hệ thống di tích nhà tù, nghĩa trang liệt sĩ Hàng Dương… chỉ còn là vấn đề thời gian. Khi đó, mỏ khí Nam Côn Sơn được đưa vào khai thác sẽ là yếu tố để Côn Đảo phục vụ thêm đối tượng khách khác là những chuyên gia, kỹ sư về dầu khí. Và các công ty lữ hành Thành phố Hồ Chí Minh lại có thêm điểm để khai thác tour cuối tuần phục vụ cho du khách.
Hữu Vinh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Côn đảo – thiên đường du lịch phương đông – Phần 1

Chúng tôi đến Côn Đảo trong ánh bình minh vừa ló rạng từ phía chân cầu Cảng Bến Mới. Sau 15 giờ trên con tàu Côn Đảo 9, được đánh giá là “khá” nhất từ trước đến nay trong các loại phương tiện đường thủy dẫn đến hòn đảo này, cơn mệt mỏi đã nhanh chóng xóa tan trong lòng các bạn trẻ bởi nét quyến rũ của hòn đảo từng được người Tây mệnh danh là “Thiên đường của phương Đông”. Nhưng đối với thế hệ cha ông, cuộc hành trình về nguồn lần này mang đến cho họ những ký ức về “địa ngục trần gian” với 113 năm giam cầm những người Việt yêu nước…
Chị Nguyễn Thị Cúc, người cựu nữ tù chính trị Côn Đảo năm xưa giờ là Phó chủ tịch Công đoàn của Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (Saigon Tourist) đã khóc khi đứng trước “chuồng cọp”. Không thể tưởng tượng nổi được sự dã man, tàn bạo mà thực dân Pháp và Mỹ – ngụy đã gây ra cho những thế hệ người Việt yêu nước khi bị lưu đày ra đây. Khi ấy, trong một lần xuống đường đấu tranh, chị đã bị bắt và bị đày ra Côn Đảo. Chị tâm sự: “Tuy là người trong cuộc nhưng tôi cũng thấy sự chịu đựng của những người đi trước quả là quá mức tưởng tượng. Tôi không hiểu lúc ấy vì sao tôi chịu được, chắc là vì sức trẻ và lý tưởng mà thôi”. Vâng, khi đứng trong chuồng bò, nhìn những du khách trẻ tuổi đứng trầm ngâm một cách im lặng, chăm chú lắng nghe lời thuyết minh của hướng dẫn viên, mới thấy sức hút của câu chuyện đầy máu và nước mắt của cha ông đã ngã xuống tại nơi này. Từng địa danh cầu Ma Thiên Lãnh, cầu tàu 914, sân bay Cỏ Ống, hệ thống hàng rào nhà chúa đảo, dãy nhà tù biệt giam, trại giáo huấn Phú Hải, trại Phú Tường… đều còn giữ nguyên hiện trạng ban đầu như một minh chứng về nỗi đau của dân tộc Việt trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do. Không chỉ riêng chị Cúc, trong Ban Giám đốc của Saigon Tourist có đến 3 thành viên cấp cao từng là cựu tù Côn Đảo, cho nên chuyện Saigon Tourist là nhà tiên phong ra Côn Đảo làm du lịch vào năm 1996 là không lạ gì. Vì Côn Đảo, ngoài sức hút của loại hình du lịch về nguồn, giáo dục học tập cho thế hệ trẻ… còn là thắng cảnh bến Dốc, Đầm Trầu, Vườn quốc gia Côn Đảo… phù hợp cho loại hình du lịch sinh thái (eco-tourism) phát triển.
Sự thật hôm nay, Du lịch Côn Đảo đang trở mình. Theo ông Hứa Ngọc Ninh, Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Côn Đảo thì: mũi nhọn kinh tế của Côn Đảo là Dịch vụ cảng biển và Du lịch. Trong ba hòn đảo phía Nam là Phú Quí, Phú Quốc và Côn Đảo thì Côn Đảo có hệ thống cơ sở hạ tầng tốt hơn cả. Hệ thống đường đến khu dân cư đều được cải tạo và nâng cấp đúng chuẩn. Đặc biệt là đường Tôn Đức Thắng, dài 4,1km (vốn là bến Andovard thuở nào) vừa được khánh thành vào ngày 20/3/2001, được mở rộng 7m với dải phân cách hai chiều là hàng cây bàng cội được trồng từ thời Pháp, có lắp đèn chùm chiếu sáng công cộng cùng với kè biển dài 1,6km, mặt kè rộng 1m được rải đá tarepot chống sóng biển lớn.
Năm 2000, khách đến Côn Đảo hơn 15.000 lượt, trong đó du khách quốc tế là 4.258 lượt, tăng 385,3% so với năm 1999. Một tín hiệu lạc quan cho ngành Du lịch ở vùng đất này. Tuy nhiên, lưu trú của khách ở Côn Đảo lại không dài, tối đa là một ngày. Nhiều lần Saigon tourist phối hợp với hãng tàu Star Cruise để đưa Côn Đảo vào lịch trình tour đường biển của hãng, nhưng không thể khai thác hết công suất vì so với Hải Nam (Trung Quốc), Phu Khét (Thái Lan) hoặc Phú Quốc thì ngoài việc tắm biển và thăm thú bảo tàng, di tích nhà tù, khách chẳng còn có cơ hội tiêu tiền cho việc mua sắm, sử dụng dịch vụ từ biển và ăn uống trên đảo.
Hữu Vinh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Trẻ em “khát” sân chơi

Cách đây hơn 10 năm, do chủ yếu dựa vào bao cấp của Nhà nước nên các Nhà Thiếu Nhi (NTN) hoạt động một cách có hệ thống và đạt hiệu quả cao. Chuyển sang thời kinh tế thị trường, kinh tế không còn dồi dào và không được thiết lập nữa nên chỉ còn lại một số ít Nhà Thiếu Nhi các thị xã, thành phố trụ được. Theo thống kê của Hội đồng Đội Trung ương, thì với hơn 100 Nhà Thiếu Nhi đang hoạt động trên cả nước liệu có đáp ứng được nhu cầu vui chơi, giải trí của các em?
Hiện nay, trên địa bàn thủ đô chỉ có duy nhất cung thiếu nhi Hà Nội là điểm văn hóa dành riêng cho các em. Trung bình mỗi dịp hè Cung đón khoảng 150.000 lượt em tham gia vào các chương trình như: đu quay, trò chơi điện tử, bập bênh, học đàn, hát, vẽ… Nhưng toàn thành phố chỉ có một cung thiếu nhi thì…? Ông Nguyễn Tiến Dũng – Phó giám đốc Cung Thiếu nhi Hà Nội cho biết: “ Hệ thống Nhà Thiếu Nhi của ta hiện nay qua thiếu. Đã thế, phần lớn lại đang hoạt động yếu ớt, cầm chừng. Vì vậy, điểm vui chơi cho trẻ em vốn đã thiếu, lại càng thiếu hơn, gây nên một thiệt thòi lớn cho các em”.
Qua khảo sát thực tế, đa số Nhà Thiếu Nhi hiện đang rơi vào tình trạng bế tắc, không những không phát triển mà còn có dấu hiệu teo dần đi. Đặc biệt ở địa bàn nông thôn. Tại các tỉnh nghèo không có đủ kinh phí nên phải hoạt động theo hướng “lấy ngắn nuôi dài”, cho thuê những khoảng trống tận dụng được để lấy tiền để đắp vào hoạt động giáo dục. Nhưng từ đây, cũng nảy sinh ra nhiều vấn đề là ở một nơi Nhà Thiếu Nhi bị biến thành quán nhậu, tiệm cafê, karaoke hay điểm chiếu phim trường. Vậy là nghiễm nhiên, một địa chỉ văn hóa bỗng chuyển thành một tụ điểm phức tạp, dễ phát sinh tệ nạn xã hội. Hơn nữa, Nhà Thiếu Nhi ở nông thôn hoạt động chủ yếu trên cơ sở phong trào, chưa có một phương pháp thiết thực. Vì thế chỉ nổi lên một thời gian rồi lại tắt ngấm.
Nét chung hiện nay là do tiếp nhận lại từ một cơ quan đã chấm dứt hoạt động nên thiết kế, quy mô của hầu hết các Nhà Thiếu Nhi không phù hợp với hoạt động học tập, giải trí và cũng không có khả năng phục vụ số lượng học viên quá đông. Nhiều điểm, cơ sở vật chất đã xuống cấp nhưng cũng không có kinh phí sửa chữa. Thậm chí có nơi còn bị các cơ quan chiếm. Ông Vũ Văn Dũng, hiện đang công tác tại văn phòng tư vấn gia đình – trẻ em của UBBVCSTE huyện Từ Liêm (Hà Nội) than vãn: “Khi xây dựng Nhà văn hóa, ngay vấn đề xin được đất cũng gặp khó khăn, nhưng nếu được thì thường đất cũng ở xa khu dân cư, thậm chí gần sông, ao, hồ, nên khó thu hút được các em”. Đây cũng là tình trạng chung của nhiều địa phương khác đáng mắc phải.
Có một thực tế là, muốn tự tồn tại, những người quản lý Nhà Thiếu Nhi phải tìm đến thị hiếu của các em. Từ đây dễ biến một trụ sở sinh hoạt thiếu nhi thành một trung tâm dạy thêm, học thêm. Nhưng để có điều kiện học thêm thì không phải em nào cũng có. Chẳng hạn, để theo học khóa hoàn thiện kỹ năng nghe nói tiếng Anh cần khoảng 300.000 đồng, học đàn (ghita, Ooc- gan…) từ 400.000 – 600.000đ/ tháng… Thế là con nhà nghèo chỉ biết nhìn… mà thèm! Trong công ước Quốc tế về quyền trẻ em có ghi: “… trẻ em có quyền được vui chơi, giải trí…”. Nhưng để các em vui chơi, giải trí bổ ích, chúng ta phải tạo ra được những sân chơi lành mạnh, mà trước hết là có cách quản lý thích hợp đối với các Nhà Thiếu Nhi, để nơi này thực sự là những điểm vui chơi chính của tất cả các em.
Bình Thuận thêm ba dự án 100% vốn nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực du lịch.
5 tháng đầu năm 2001, tại Bình Thuạn đã thu hút thêm 3 dự án 100% vón đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực du lịch, nâng tổng số dự án 100% vốn nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực du lịh tại tỉnh này lên 7 dự án.
3 dự án mới đó là: dự án Khu du lịch Cát Trắng (Anh) sẽ xây dựng khu nghỉ mát gia đình tại xã Phú Hải (Phan Thiết), dự án Khu du lịch EO (Úc) với việc hình thành khu vui chơi ở xã Hàm Tiếu (Phan Thiết) và dự án du lịch lặn biển (Hàn Quốc) tại Vĩnh Hảo (Tuy Phong).
Hà Nội phát triển hệ thống đèn tín hiệu giao thông
Theo Sở Giao thông công chính Hà Nội, đến nay, dự án Hệ thống đèn tín hiệu giao thông do chính phủ Pháp viện trợ và Công an thành phố Hà Nội là chủ đầu tư hoàn thành xong việc xây dựng và đưa vào vận hành 105 nút giao thông có đèn điều khiển, 20 camera và 6 máy đếm xe.
Được biết, Sở Giao thông Công chính Hà Nội đang phối hợp với Công an thành phố khảo sát, đánh giá hiện trạng hệ thống đèn tín hiệu giao thông để lập kế hoạch duy tu; đồng thời, xem xét các vị trí thí điểm cho phép người tham gia giao thông được rẽ phải, rẽ thái thuận chiều khi có đèn đỏ một cách hợp lý. Bên cạnh đó, Sở cũng đang nghiên cứu để xây dựng thêm hệ thống đèn tại một số nút giao thông cần thiết như Đại Cồ Việt – Tạ Quang Bửu – Hoa Lư, Nguyễn Chí Thanh – Láng – Trần Duy Hưng v.v… và khảo sát để dỡ bỏ đèn tín hiệu tại các vị trí bất hợp lý hoặc không cần thiết.
Thu Thảo – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Lên đồng “cần loại bỏ những yếu tố lạc hậu”

Lên đồng là một thể loại hát múa biểu diễn thuộc nhóm nghệ thuật hát múa dân gian. Lên đồng có đặc điểm tương tự như múa hát đưa linh, múa hát xoan đúm ả đào, múa hát trừ tà trục quỷ, múa lân, múa tứ linh, múa rồng… để phục vụ cái linh thiêng và thể hiện ước vọng có một đời sống cộng đồng tốt đẹp hơn.
Những giá đồng thường được gọi về nhập hồn vào người hầu đồng là những nhân vật có công lao với cộng đồng dân tộc. Đó là những nhân vật xa lạ với thế giới mê tín, đóng góp công sức vào sự tồn tại của cộng đồng trên các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và là biểu tượng của dân tộc hoặc của một vùng. Bên cạnh những nhân vật có thật trong lịch sử, người ta còn linh thiêng hóa đối tượng cá thể như thờ con sông, cái cây hay con vật cụ thể nào đó, dần dà đi đến linh thiêng hóa cả một chủng loại, như một thần tính cho các dòng sông (Mẫu Thủy phủ), một thần tính cho các rừng rú núi non (Mẫu Thượng ngàn), một thần tính cho chín cõi trời (Cửu thiên huyền nữ), một thần tính cho mỗi vùng (bà chúa Xứ)… và tạo nên tín ngưỡng đa thần. Từ những nhân vật có thật trong lịch sử được thần thánh hóa và những vị thần thánh trong tín ngưỡng đa thần, lên đồng bao gồm thanh đồng (gồm 5 giá: Trần Hưng Đạo, Quan Vân Trường…), đồng cốt (gồm các giá công chúa Liễu Hạnh, mẫu Thượng ngàn, mẫu Thủy phủ, Huyền Nữ Cửu Thiên, bà chúa Xứ); đồng đức ông (giá ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Mười); đồng cậu (gồm 12 giá: cậu Cả, cậu Bé..); đồng cô (gồm 12 giá: cô Cả, cô Đôi, cô Bơ, cô Sáu, cô Chín, cô Mười…) và đồng cô bóng cậu mang tính địa phương, không có tên gọi cụ thể, tức là chưa được tính cách hóa.
Những người hầu đồng thường rất cẩn thận, kỹ càng khi sửa lễ dâng lên các vị thánh thần hàng quan (thanh đồng), đồ lễ dâng lên là chè, thuốc và rượu; các vị nữ thần hàng chầu (đồng cốt), lễ vật lại là trầu cau, lương thực. Hoa quả, bánh kẹo dùng để cúng tiến hàng cô, hàng cậu. Ở mỗi giá đồng, người hầu đồng lại có người giúp thay trang phục để phù hợp với hồn của giá đồng đó. Để hầu đủ 36 giá, người hầu đồng sẽ ăn vận 36 trang phục khác nhau, như bộ áo xanh lam, tay cầm đao ở giá đức thánh Trần; áo vàng, đai đỏ, tay cầm cờ trong giá ông Hoàng Mười; hay áo tím, váy xanh đen trong giá cô Bé… Khi đã nhập đồng, người hầu đồng say sưa nhảy múa trong tiếng nhạc lời ca với những biểu hiện khác nhau, khi tươi tắn, khi trang nghiêm và luôn tay phát lộc, phát tiền cho những người dự lễ. Cuối buổi hầu đồng, các loại vàng mã (tiền âm, voi, ngựa giấy, hình nhân…) được đốt hết để cúng tiễn hồn. Sau đó, người vừa hầu đồng sẽ bày cỗ khoản đãi khách mời dự lễ lên đồng và cả những khách thập phương đi lễ tại đền ngày hôm đó.
Nếu có đủ điều kiện kinh tế, mỗi năm, người đi hầu đồng thường có hai buổi lễ lên đồng; lễ cầu tài lộc đầu năm và lễ tạ cuối năm. Cảm giác sau buổi lễ lên đồng của những ông đồng, bà cốt là khỏe mạnh hơn, tin tưởng cuộc sống tương lai sẽ yên ổn và tốt đẹp. Tuy nhiên, để tổ chức được buổi lễ lên đồng, người hầu đồng phải chi phí rất tốn kém. Chị Phùng Thị Thảo ở Phú Xuyên, Hà Tây là người đã theo hầu đồng 3 năm liền, cho biết: sắm đủ trang phục cho một buổi lên đồng hết khoảng 7 triệu. Đó là chưa kể đến các khoản sắm lễ hương hoa, oản quả và vàng mã, tiền bồi dưỡng dàn nhạc, chi phí đi lại…Khoản tiền này là lớn so với thu nhập bình quân đầu người hàng năm của người Việt Nam. Theo bà Lê Thị Hoan ở Hàng Mã (Hà Nội), trong chuyến đi hầu đồng đền Mẫu ở Trái Hút, Bảo Hà (Lào Cai) tháng 3 vừa qua, bà cũng đã tiêu tốn hàng chục triệu đồng.
Tuy nhiên, do lên đồng có từ nhiều năm, nên đã có những yếu tố lạc hậu. Vì vậy công việc mà ngày nay cần làm bên cạnh việc gìn giữ nét văn hóa dân gian là lọc bỏ các yếu tố lạc hậu, mê tín, lãng phí như đốt vàng mã, ngựa giấy, hình nhân thế mạng, sắm sửa lễ vật đắt tiền, cỗ bàn linh đình. Nhu cầu xã hội luôn gia tăng, đòi hỏi sự sáng tạo thường xuyên của con người, nhưng làm sao có thể sáng tạo được khi người ta chìm đắm trong trạng thái thụ động, chờ đợi ở thế lực siêu nhiên ban tặng? Việc bài trừ yếu tố mê tín trong tín ngưỡng là việc cần được tiến hành khẩn trương, song cũng là một quá trình đòi hỏi sự kiên nhẫn khi làm, bởi nó là sự tháo gỡ lớp văn hóa già nua, lạc hậu và sự gieo trồng yếu tố văn hóa mới vào nhiều thế hệ có tâm lý khác nhau, không thể làm trong một lần và trong một thời gian ngắn ngủi hoặc đứt quãng.
Nguyễn Quỳnh Hoa – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Tập tục lạ của người Đôgôn

Tại Đông Nam Á quốc gia Mali (Châu Phi) có một cao nguyên đá vôi chạy dọc theo biên giới, rộng 80 km, cao từ 470 m đến 1.120 m. trên cao nguyên có bộ tộc Đôgôn khoảng 8000 người sống trong những bản làng nằm rải rác.
Bộ tộc người Đôgôn tới đây cư trú bao giờ không rõ. Ngay cả những người Đôgôn cũng biết qua câu chuyện truyền khẩu: tổ tiên của họ trước kia sống ở đồng bằng, sau đó bị các bộ tộc khác mạnh hơn xâm chiếm đất đai và họ phải chạy lên cao nguyên núi đá.
Cuộc sống trên cao nguyên khá vất vả, nhưng người Đôgôn không hề bị đối vị họ trồng trọt rất giỏi và biết hái lượn các thức ăn, rau quả trong rừng. nhà ở của họ hình hộp, bé nỏ. Tường nhà và mái nhà là đất nện. Trước nhà những vựa chứa lương thực (Sắn khô, hạt kê). Vựa có nắp đậy và phủ một chiếc nón rơm bên trên.
Giao thông đi lại trên cao nguyên khó khhawn, đi bộ là chủ yếu. Nhưng nơi gặp vách đá, họ phải dùng thân cây gỗ làm thang hoặc leo lên. Việc vận chuyển hàng hóa cũng dùng sức người. Họ đội hàng hóa trên đầu và khi gặp nhau thì chỉ chào hỏi mà không dám quay lại chào nhau, tay bắt mặt mừng, để giữ thăng bằng vật trên đầu.
Người Đôgôn có những tín ngưỡng và tập tục khác hẳn các bộ tộc khác ở Châu Phi xin kể một số như sau:
Truyền thuyết về vũ trụ và nguồn gốc tộc người Đôgôn: người Đôgôn có nững chuyện truyền khẩu từ đời này snag đời khác Mặt Trăng và Mặt Trời trên bầu có chung một mẹ sinh ra, song còn cha của Mặt Trời và Mặt Trăng thì không rõ.
Nguồn gốc người Đôgôn vốn có từ lâu đời. Thoạt đầu một con rắn thần sinh ra hai người đàn ông. Hai người này lấy vợ và sinh ra con, cháu, chắt và ngày nay bộ tộc người Đôgôn ngày càng đông đúc, sống trên khắp cao nguyên.
Người Đôgôn có một nền văn hóa cao. Họ theo đạo Hồi hoặc Thiên chúa giáo. Trong các hang động họ còn giữ lại nhiều tượng đá từ nhiều đời lưu lại, ví như tượng hai người, biểu tượng cho hai ông tổ của bộ tộc Đôgôn.
Bói toán qua con cáo: Người Đôgôn có tụ lệ bối toán qua con cáo do một thầy phù thủy trong làng phụ trách. Trong làng ai cũng muốn bói việc gì thì trình bày với ông ta từ sáng sớm. Buổi chiều ông xoa một bàn cát phẳng lỳ, vẽ trên đó các hình. Có thể ông đắp lên bàn cát một nắm cát và trên đó ông cắp một vài búp cây nhỏ. Ông ta chia bàn cát ra làm ba phần, phần thứ nhất bới về tình hình làm ăn, xem triển vọng xấu hay tốt, phần thứ hai bói cho tình hình con cái ; phần htuws ba đón về sức khỏe của người mẹ. Sau khi đã vẽ xong các hình, ông phù thủy đặt nhiều hạt lạc trên hình vẽ để nhử con cáo. Tối nào cũng vậy, vào quá nữa đêm co cáo tới “bàn bối toán” ăn lạc và sáng hôm sau, qua những vệt chân đi của con cáo, thầy phù thủy giải mã xem con cáo đã thông báo cho người những điều hay dở ra sao.
Con cáo cũng có những đêm không tới ăn lạc ở trên bàn bói toán vì con người làm nó sợ. Còn dân làng thì kính nở con cáo vì nó giúp cho con người biết được hậu vận và tương lai.
Lễ tang ở bộ tộc Đôgôn: tang lễ người Đôgôn thường kéo dài nhiều ngày và nghi lễ cũng phức tạp.
Mọi người trong gia đình, họ hàng tập trung xung quanh người xấu số. Người chết được cạo trọc đầu, thay quần áo đẹp và sạch sẽ.
Người chết được uống nước, phòng cho linh hồn không bị khát và tốt cho con cháu, người thân trong nhà gặp rủi ro.
Những phụ nữ khóc lóc thảm thiết, còn trẻ đi loan báo cho làng bên cạnh về tin buồn. Mỗi ngày có 5 người đeo mặt nạ, vừa dậm chân, vừa múa, vẻ mặt oai nghiêm, tay cầm chiếc gậy. Múa xong, họ thịt con gà để ăn.
Tang lễ kéo dài trong nhiều ngày tốn kém. Nhiều gia súc bị giết mổ (gà, lợn, dê…)
Tại làng Aru tang lễ lại tiến hành có phàn khác:
Thi thể người chết được tắm rửa sạch sẽ và được bôi các dầu, nhựa thực vật – Ruột người chết được thay thế bằng mật ong trộn lẫn nhựa cây, dầu thơm thực vật – Người chết được quấn vào một chăn lớn rồi đem đi chôn.
Ngoài ra, người Đôgôn còn có tục chôn cất đối với nam giới là nằm sấp, cìn phụ nữ thì nằm ngửa. Người Đôgôn coi đây là một tập tục cầu cho nòi giống phát triển.
Nguyễn Thái – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001

Du lịch văn hóa thế mạnh của Trà Vinh

Nằm ở phía Nam hạ lưu sông Mê kông, được bao bọc bởi sông Tiền và sông Hậu, đất Trà Vinh – nhìn từ trên cao xuống dọc ngang những dòng kênh rạch và giồng đất nối tiếp nhau như sống bể. Phong cảnh Trà Vinh xanh một mau cây, trá. Hòa với màu xanh của lá là màu xanh của biển. Biển Trà Vinh nước trong, cát trắng, không khí trong lành, mát mẻ. Đó chính là lý do để hàng ngàn người đã lựa chọn Ba Động và Mỹ Long – hai bãi biển đẹp nhất của Trà Vinh làm nơi nghỉ ngơi, thư giãn vào các kỳ nghỉ cuối tuần.
Nếu đến Mỹ Long vào dịp 11, 12 tháng 5 (âm lịch), du khách sẽ được sống trong không khí náo nhiệt của lễ hội Nghinh Ông (cúng biển). Lễ hội bắt đầu bằng những nghi lễ trang trọng: Lễ Nghinh Ông, lễ rước bà Chúa Xứ, rước Cậu… và sau đó là các trò chơi dân gian: nhảy bao, kéo co, đua bắt cá… cuối cùng, khi dân chài đưa tàu ra biển cũng là lúc lễ hội kết thúc. Đó là cách mà những người con của biển tỏ lòng biết ơn Cá Ông đã cứu giúp tàu thuyền đi biển gặp nạn.
Lễ hội Nghinh Ông không phải là lễ hội duy nhất ở Trà Vinh. 30% dân số là người Khmer đã làm nên một đời sống văn hóa đặc sắc cho Trà Vinh với nhiều lễ hội của dân tộc Khmer còn được lưu giữ đến ngày nay: Lễ hội Chôl – Chnam – Thmây – tết mùng năm mới được tổ chức vào tháng 4 (âm lịch) hàng năm; lễ hội Dolta – cúng ông bà diễn ra vào hai ngày cuối tháng 8 (âm lịch); Lễ hội Ok – om – bok mừng ngày mùa, để tổ chức tại Ao Bà Om và chùa ng vào ngày 15 tháng 3 (âm lịch) hàng năm…
Người Khmer ở Trà Vinh rất có ý thức giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống và bản sắc dân tộc. Chùa Khmer đồng thời cũng là trường học dạy chữ Khmer, phong tục, tập quán của người Khmer để thế hệ trẻ không bao giờ quên tổ tiên, cội nguồn của mình. Và, bài học đầu tiên bắt đầu bằng tên của các ngôi chùa: Chùa Cò Giồng Lớn với kiến trúc đặc sắc của nền văn hóa Khmer ở Trà Vinh- cổ kính, to lớn, mái uống cong theo hình đuôi rồng; Chùa Hang còn có tên là Mồng Rầy – kiến trúc cổng chùa tựa như một cái hang (từ hơn trăm năm nay, hai ngôi chùa là nơi cư trú của hàng chục chim đủ loại, đông nhất là họ nhà cò – cò trắng, cò đầu đỏ, cò mỏ vàng, cò mỏ đỏ…); Chùa ng – ngôi chùa cổ nhất 142 chùa Khmer ở Trà Vinh có sức hấp dẫn không chỉ vì kiến trúc độc đáo mà còn bởi chùa được sắp đặt hài hòa giữa cảnh sắc thiên nhiên của một rừng cây cổ thụ.
“Báu vật” của Trà Vinh ngoài chùa Khmer còn có đền thờ Bác Hồ, Ao Bà Om – danh thắng bậc nhất miền Tây và quần thể kiến trúc văn hóa Lưu Cừ (thuộc nền văn hóa Óc Eo, có niên đại từ thế kỷ I đến thế kỷ thứ V sau Công nguyên)… Có thể nói, thiên nhiên và lịch sử đã ưu ái cho Trà Vinh kho tiềm năng của loại hình du lịch đang phát triển hiện nay: Du lịch văn hóa, thám hiểm, nghiên cứu, về với cội nguồn…
Tận dụng thế mạnh của tỉnh nhà, Công ty Du lịch Trà Vinh với hệ thống nhà hàng, khách sạn có sẵn (Khách sạn Thanh Trà, Cửu Long được trang bị hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế) đã chú trọng đầu tư khai thác và phát triển dịch vụ du lịch lữ hành. Không chỉ có các tuyến tham quan di tích lịch sử và danh thắng, Công ty Du lịch Trà Vinh còn phối hợp với làng nghề truyền thống tổ chức những chương trình giới thiệu sản phẩm đặc trưng của Trà Vinh và vùng Đồng bằng Cửu Long như chiếu dệt, bánh tráng… Đến và mua quà ngay tại làng nghề luôn là một phần trong các tour du lịch do công ty tổ chức. Sự hợp tác này đã, đang và sẽ tiếp tục mở ra hướng phát triển mới cho cả du lịch và nghề truyền thống Trà Vinh.
Thế và lực, tiềm năng và cơ hội đã đưa Du lịch Trà Vinh trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.Trách nhiệm quan trọng này đang đặt cả lên vai Công ty Du lịch Trà Vinh. Trong tương lai, Công ty sẽ quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa về cơ sở vật chất và chất lượng phục vụ để Trà Vinh trở thành điểm du lịch hấp dẫn thu hút ngày càng đông du khách trong nước và quốc tế.
Hương Giang – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11 (176) – 2001

Ngọc khánh giữ mãi hình ảnh đẹp

Đã ba năm trôi qua, nhưng những giây phút trong đêm đăng quang hoa hậu của Ngọc Khánh vẫn còn in đậm trong ký ức của khán giả. Tôi nhớ lại không khí sôi động hôm chung kết ở Nhà thi đấu Phan Đình Phùng (Thành phố Hồ Chí Minh) lúc người dẫn chương trình quay micro xuống dưới khán đài hỏi: “Các bạn hãy đọc số báo danh của người xứng đáng đoạt hoa hậu?” Cả nhà thi đấu đồng thanh “72 – Ngọc Khánh”. Vâng, cô gái có chiều cao 172cm này đã chiếm trọn tình cảm của khán giả và Ban Giám khảo một cách thuyết phục như vậy, không phải vì cô đẹp nhất mà bằng chính sự thông minh, tự tin, sang trọng và có phần “lành lạnh”.
Là con gái út của cố đạo diễn Nguyễn Đỗ Ngọc và nghệ sĩ thổi kèn oboe Lê Thị Thắng, Ngọc Khánh sớm thừa hưởng ở người cha cái “máu” văn chương, thích viết, thích đọc. Ngay từ khi còn bé, Ngọc Khánh đã được bố đưa đến chơi nhà những người bạn hữu của ông ở Hà Nội. Đi nhiều rồi quen Khánh đâm trở thành bạn văn thân thiết của ông. Ngày bố còn sống,cứ mỗi lần viết xong kịch bản, Khánh lại là người đầu tiên được bố cho đọc bản thảo. Mới mươi tuổi đầu, Khánh đã là người phê bình nghiêm khắc của ông. Không chịu kém bố, Khánh cũng tập tành viết truyện, làm thơ. Thấy con gái cũng ham văn, thích thơ, bố tặng lại cho cô chiếc máy chữ vào dịp sinh nhật lần thứ 13. Năm ấy, bố Khánh mất, chiếc máy chữ trở thành vật kỷ niệm cuối cùng của Khánh về bố. Bây giờ đã là một người đẹp nổi tiếng, Khánh vẫn không quên được những kỷ niệm đẹp ấy.
Khi bố mất được một năm, mẹ con Khánh dắt nhau vào Nam. Những ngày đầu nhớ bố, nhớ Hà Nội da diết, Khánh chỉ còn biết lao vào học, và phút đăng quang hoa hậu toàn quốc 1998 là bước ngoặc trong cuộc đời của Khánh. Cô nhớ lại: “Mẹ vui lắm, chỉ còn biết tặng hoa và khóc. Mẹ là người đã khuyến khích Khánh đến với cuộc thi rất nhiều. Mẹ bảo con gái bây giờ không những phải tự lập mà còn phải biết khẳng định mình. Trở thành hoa hậu đã khó, giữ được còn khó hơn”. Mang tâm niệm đó, ba năm qua trên cương vị hoa hậu, rồi cựu hoa hậu, Khánh đã dốc sức để tự hoàn thiện và xứng đáng với danh hiệu cao quý đã có. Mặc dù là tiếp viên hàng không phải đi bay thường xuyên nhưng Khánh vẫn tốt nghiệp trường Luật vào loại khá. Bên cạnh đó Khánh còn tham gia các hoạt động xã hội: làm từ thiện, diễn thời trang, làm M.C… Chính những công việc đó đã làm Khánh cảm thấy giảm bớt đi rất nhiều stress trong cuộc sống hàng ngày.
Có một điều ít ai biết đến là trong lịch sử hoa hậu Việt Nam, cùng với Bùi Bích Phương (hoa hậu 1981), Ngọc Khánh là một trong những hoa hậu quốc gia có thể nói thuần tục được 4 ngoại ngữ.Cô được xem như hình mẫu về hoa hậu Việt Nam thế hệ mới: có sắc đẹp, có đầu óc thông minh và hiểu biết, có khả năng thể hiện mình một cách thoải mái, tự tin. Là một phụ nữ hiện đại, Ngọc Khánh không chỉ dừng lại ở đó mà cô còn có nhiều tham vọng tiến xa hơn nữa. Đối với cô, các cuộc thi hoa hậu uy tín chính là những chiếc chìa khóa để bước vào một môi trường phóng khoáng và tới những cơ hội. Chính vì vậy, cô đã nhận lời mời đại diện cho Việt Nam đến tham dự cuộc thi Hoa hậu Hoàn Vũ (Miss Universe 2001) tại Puerto Ricco vào cuối tháng 5 này.
Trương Hoàng Phú – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 15(180)2001