Liên doanh Vũng Tàu – Paradise, con tàu sắp đắm – Phần 2

Nếu như năm 1997 liên doanh lỗ 5.636 triệu đồng thì năm 1998 lại lỗ 6.320 triệu đồng và năm 1999 lại lỗ thêm 6.435 triệu đồng. Thêm vào đó tính hết tháng 9 năm 1999 công nợ của liên doanh Vũng Tàu – Paradise đã lên tới 34 tỷ đồng, trong đó nợ thuế nhà nước kể cả thuế đất là 21,4 tỷ đồng, còn lại là nợ các nhà thầu, nơi Bảo hiểm xã hội, nơi bảo hiểm y tế và nợ tùm lum của 12 nhà thầu xây dựng tại Vũng Tàu. Do nợ nần chồng chất nên tình hình góp vốn của liên doanh rất chậm nếu không dám nói là dẫm chân tại chỗ. Từ năm 1991 đến năm 1997 việc góp vốn bằng tiền, vật tư hàng hóa của đối tác nước ngoài mới chỉ đạt 25.408.603,47 đô la Mỹ và việc ngừng góp vốn từ năm 1997 đến nay đã được phía đối tác nước ngoài công bố thẳng thừng với đối tác Việt Nam.
của Công ty đều bất hợp lệ. Không đầy đủ các thủ tục và chứng từ thanh thuyết toán kể cả những cơ sở căn cứ công nhận tạm thời.
Trống đánh xuôi kèn thổi ngược
Đó là tình trạng hiện nay Liên doanh Vũng Tàu – Paradise bởi mặc dù đã được các cấp có thẩm quyền nhắc nhở và tạo cho một vài cơ hội nhưng chẳng những Paradise không nghe mà làm theo ý thức của mình: Tuyển dụng và sa thải nhân viên một cách tùy tiền, gây khá nhiều bất bình trong dư luận. Việc tôi, tôi làm, việc anh anh nói, đó là quan điểm gần như xuyên suốt của đối tác nước ngoài ở liên doanh Vũng Tàu – Paradise. Điều này đã được thể hiện qua việc xây dựng khu nhà rông 54 trái phép, không đúng như giấy phép đầu tư. Để tránh tình trạng xuống cấp như nhà rông, ủy ban nhân dân thành phố tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã đồng ý cho đưa vào sử dụng nhà rông này trong thời hạn 6 tháng và trong thời gian này phải gấp rút trình Bộ kế hoạch đầu tư xin điều chỉnh giấy phép. Hơn một năm trôi qua kể từ ngày được ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chiếu cố, Vũng Tàu – Paradise không hề động tĩnh những công trình xây dựng dở dang vẫn phó mặt cho mưa nắng và muối biển mài mòn. Riêng vấn đề góp vốn, hội đồng quản trị công ty chỉ công nhận đối tác nước ngoài góp 11.354.753 USD so với 25.408.603,47 triệu USD mà đối tác nước ngoài đưa ra và 40 triệu USD mà cá nhân ông Long Hsiang Wu khẳng định. Nội vụ hiện nay vẫn chưa được các cơ quan giám định nào trả lời vì bản thân liên doanh đã không còn khả năng trả lương cho công nhân nói chi đến việc thuê các công ty giám định, kiểm toán. Nếu như việc giám định và kiểm toán là vấn đề phức tạp và tốn kém thì việc đơn giản nhất là đo đạc đất đai trên thực địa giữa các bên liên quan cũng đã bộc lộ một số bất đồng. Theo giấy phép đầu tư được cấp, Liên doanh Vũng Tàu – Paradise được sử dụng 220 ha đất. Thế nhưng theo các mốc địa giới liên doanh Vũng Tàu – Paradise đo được 221,086 ha. Bất đồng nối tiếp bất đồng… vì thế mà đáp số của bài toán tính diện tích của một học sinh cấp 2 sau gần 10 năm chưa có lời giải.
Mai Thế Hưng -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (30(134))1999.

Liên doanh Vũng Tàu – Paradise, con tàu sắp đắm – Phần 1

Đã có không ít kẻ bạo mồm bạo miệng cho rằng Công ty Liên doanh du lịch Vũng Tàu – Paradise ở Bà Rịa – Vũng Tàu là liên doanh liều, liên doanh địa ngục, Paradise tiếng Anh có nghĩa là thiên đường nhưng thiêng đường đâu chẳng thấy mà chỉ thấy sau 10 năm hoạt động con số lỗ của liên doanh đang gia tăng theo cấp số nhân, và hiện nay Liên doanh Vũng Tàu – Paradise đang dở khóc dở mếu vì tiến thoái lưỡng nan.
Thiên đường đã thăng giữa đường
Có thể khẳng định rằng Liên doanh du lịch Vũng Tàu – Paradise là một trong những liên doanh ra đời sớm nhất trên cả nước kể từ khi luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được công bố. Đây là liên doanh ra đời theo giấy phép đầu tư số 183/CP ngày 23 tháng 4 năm 1991 của Ủy ban nông nghiệp về HTĐT (nay là BKH & ĐT) giữa 2 đối tác là Công ty Dịch vụ Du lịch quốc tế Bà Rịa – Vũng Tàu (Vũng Tàu Intourco) và Công ty Paradise Development Investment – Đài Loan. Theo giấy phép được cấp, tổng vốn đầu tư của liên doanh này là 97.200.000 đô la Mỹ, vốn pháp định 61.800.000 đô la Mỹ trong đó phía Việt Nam góp 15.450.000 đô la Mỹ, chiếm 25% vốn pháp định bằng quyền sử dụng 220 héc ta đất trong 25 năm, số vốn còn lại do phía nước ngoài góp bằng tiền, máy móc và thiết bị vật tư. Mục tiêu của liên doanh Vũng Tàu – Paradise là xây dựng khách sạn 3 sao 1.500 phòng và các dịch vụ kèm theo: khu thể thao dưới nước, làng văn hóa Việt Nam thu nhỏ, sân gôn 27 lỗ và hàng loạt dịch vụ vui chơi giải trí khác…. Tiếc thay điều đó đã và sẽ không bao giờ có bởi cho đến ngày hôm nay, nghĩa là sau khi giấy phép được cấp đã 10 năm, công ty Paradise mới chỉ xây dựng xong khu sân gon, còn những công khác thì hoặc dở dang hoặc hoạt động với quy mô nhỏ mà bất cứ một chương trình nào diễn ra trong Công ty cũng để lại nhiều tai tiếng. Người dân Vũng Tàu và khách du lịch hẳn sẽ chẳng bao giờ quên một chương trình triển lãm thời trang quốc tế treo đầu dê bán thịt chó của Công ty này. Theo như quảng cáo thì Paradise sẽ kết hợp với Công ty tạo mẫu thời trang quốc tế Vois tổ chức đêm trình diễn thời trang trên sâu khấu nổi với dàn người mẫu nổi tiếng thế giới. Gần 6 nghìn thượng đế trong đó có khoảng 80% là khách du lịch đã nhầm vì sân khấu nổi chỉ là con tàu cũ rích neo trong khu vực bãi biển của Công ty và người mẫu thời trang chỉ là chị em người Nga công tác tại Xí nghiệp Liên doanh Vietsopetro. Tiếp đến là Lễ hội đất Phương Nam nhân dịp tết cổ truyền Mậu Dần 98. Voi Bản Đôn không có như quảng cáo đã đành, thay vì lấy trâu chọi Đồ Sơn, Paradise lại lấy trâu Long Đất (Bà Rịa Vũng Tàu) cho trâu uống rượu, khua cồng chiêng cho nó hăng máu để đánh lừa thượng đế. Nhưng thượng đế thường là khách thập phương nên sẽ còn bị lừa dài dài bởi hiện nay trong làng ca nhạc còn lắm ca sĩ trùng tên, và du khách chẳng là người sở tại nên cứ ngậm bồ hòn làm ngọt khi các chương trình ca nhạc hàng tuần ở đây ca sĩ ra sân khấu vẫn là ca sĩ lạ hoắc lạ hơ, không như quảng cáo. Cũng chính vì tai tiếng và sự làm ăn ẩu nên hoạt động của Liên doanh Vũng Tàu – Paradise đã liên tục bị thua lỗ.
Mai Thế Hưng -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (30(134))1999.

Long đong cơm hàng cháo chợ – phần 3

Và mối ràng buộc không thể dứt.
Nhiều người thường xuyên phải chịu cảnh cơm hàng cháo chợ phiểu là vẫn biết là ăn thứ cơm phở ấy thì không tốt và không có gì bằng cơm nhà nấu lấy nhưng hoàn cảnh bắt buộc phải như vậy. Điều không thể phủ nhận được đó là ăn cơm hàng rất tiện lợi, tiết kiệm nhiều công sức và thời gian của mọi người. Nhiều người vì không có điều kiện nấu cơm nên không thể cân nhắc lợi hại và không có sự lựa chọn nào khác (như phần lớn sinh viên nội trú, dân lao động ngoại tỉnh, người có nhà ở xa cơ quan làm việc nên không về nhà ăn cơm được…). Song cũng có không ít người vì ngại nấu nướng kích rích cũng tìm ra quán. Bắt đầu từ buổi sớm tinh sương, trước giờ các công sở làm việc, các trường vào học, công trường, nhà máy vào ca là các hàng bánh mì batee, bánh cuốn, phở, bún, cháo… đã nườm nượp khách vào ra. Cả thành phố ước tính có hàng nghìn cơ sở bán đồ ăn sáng thì có lẽ chưa có cơ sở nào thưa vắng khách. Việc nấu bữa sáng trong gia đình dường như ngày càng ít đi. Có người cho đấy là thói quen trưởng giả không hợp thời. Vào bữa trưa, bữa tối các hàng quán cũng quay chóng mặt như vậy. Mối quan hệ giữa quán hàng và thực khách ngày càng gắn bó hết sáng đến trưa, chiều tối. giữa cái được trước mắt và cái mất lâu dài, các thượng đế đã chọn cái đầu tiên. Vì thế ngày càng có nhiều người ăn cơm ngoài, và hàng quán sẽ vẫn tiếp tục mọc lên như nấm.
Lời kết
Đã đến lúc không thể làm ngơ trước lối kinh doanh, buôn bán thực phẩm bất chấp sự an toàn sức khỏe của cộng đồng. Quyết định số 228/QĐ – TTg ngày 15 tháng 12 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ đã bổ sung mục tiêu bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm vào chương trình mục tiêu quốc gia thanh toán một số bệnh xã hội và bệnh dịch nguy hiểm từ năm 2000. Nội dung của mục tiêu nhằm chủ động quản lý, giám sát mức độ ô nhiễm độc hại thực phẩm và chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm trên thị trường, phòng chống ngộ độc và các bệnh tật do thực phẩm trên thị trường, phòng chống ngộ độc và các bệnh tật do thực phẩm gây ra, góp phần phát triển sản xuất thực phẩm. Hy vọng rằng để thực hiện quyết định đó các cơ quan có chức năng sẽ kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ tiêu chuẩn vệ sinh trong sản xuất thực phẩm và đăng ký kinh doanh thực phẩm, sẽ đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền sâu rộng cho người tiêu dùng thực phẩm về vấn đề này. Sao cho trong xã hội không chỉ có những nghệ thuật ẩm thực văn hóa ẩm thực ở những nhà hàng, khách sạn lớn mà còn xuất hiện cả văn minh ẩm thực giữa những hàng quán bình dân và những thực khách cũng bình dân. Nghĩa là với số tiền khiêm tốn trong tay, những người lao động nghèo, trí thức nghèo… cũng có thể có một bữa ăn sạch sẽ, vệ sinh ở một nơi tiện lợi và đón nhận một thái độ phục vụ hòa nhã, tôn trọng, hiểu biết giữa chủ và khách. Miếng ăn qua miệng là để nuôi dưỡng cơ thể. Chứ ăn qua rồi thấy lo, thấy sợ, thật nguy hiểm thay!.
Thanh Mai -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (4(108))1999.

Long đong cơm hàng cháo chợ – phần 2

Nhìn vào tô canh thấy một miếng xương to trắng trơn theo đúng nghĩa là “xương”, vài miếng khoai nổi lập lờ vì thái quá mỏng. Thế là mất gần 10 nghìn đồng mà không có được một bữa cơm ở mức trung bình ở nội thành. Khác hẳn những khu trung tâm thành phố, cơm bụi ở các vùng “ngoại vi” như Cầu giấy, Thanh Xuân, Thanh Nhàn “giá rẻ bất ngờ”. Cơm rẻ nhất có lẽ là ở Đại sư Sự Phạm I, từ 3 nghìn đồng đến 4 nghìn đồng sinh viên đã có thể có một bữa cơm bụi tạm ổn. Thậm chí các sinh viên nữ chỉ dùng bữa chính hết 2 nghìn đồng. giá bèo như vậy cũng có nguyên nhân của nó: Khu vực này thực phẩm khá rẻ. Gạo, thịt, rau, đậu đều sẵn cả. Song dường như chưa vừa lòng với lợi thế khách quan đó, các hàng cơm bụi tìm đủ mọi ngón nghề đề moi tiền trong những cái túi vốn đã nhẹ tênh của sinh viên. Cơm ở đây được nấu bằng thứ gạo đã ngâm từ tối hôm qua, ngày hôm trước nên hạt cứ nở bụng hết cỡ. Canh thường được khuyến mại là một thứ nước biển mằn mặn có vài ba cọng rau lang lang khắp chốn cùng nơi. Thức ăn bao giờ cũng là thứ rẻ nhất chợ. Thật chua xót khi dường như họ nghĩ rằng cơm hẩm, thịt ôi, cá ươn, rau úng, là để dành cho những người chỉ biết có sách vở này vậy. Nếu như hàng cơm có sự phân biệt giá cả chất lượng như vậy thì các loại hàng cháo, phở, bún, miến, quà bánh bình dân lại có giá khá thống nhất ở khắp mọi nơi và cũng có những ưu, nhược điểm rất giống nhau. Càng ngày người dân thủ đô càng bàn tán nhiều đến những mối nguy hiểm của các hàng quà này đang đe dọa sức khỏe con người. Mới đây nhất Đoàn thanh tra của Sở y tế thành phố đã phát hiện trong bánh phở do các cơ sở sản xuất tại thành phố cung cấp cho các hàng phở có chứa hooc môn, một hóa chất chỉ dùng để sát khuẩn trong các phòng mổ và phòng lạnh ướp xác chết của ngành Y tế. Hóa chất này trong bánh phở rất nhỏ, chưa đủ gây ngộ độc cấp cho thực khách nhưng nếu thường xuyên ăn phải chất này sẽ có hại cho sức khỏe, có khả năng làm hỏng men tiêu hóa, nếu tích lũy lâu trong cơ thể sẽ là một mầm mống gây bệnh ung thư. Cái hại lớn trước mắt đó thì ai cũng công nhận nhưng có lẽ ít người để ý đến những điều nhỏ nhặt khác cũng có thể gây ra mối họa không nhỏ: Đó là việc người ta cho đường hóa học vô tội vạ vào các loại bánh mì ngọt, bánh bao chay, banh rán và các loại bánh khác thay cho đường cát, món rau sống để ăn kèm với bún chả, bánh gối, bún đậu ít khi được rửa sạch sẽ, thực khách rất dễ bị tào tháo rượt. Lọ tương ớt để lưu trữ hàng tháng, thậm chí cả năm trên các bàn ăn trong các quán xá, không hề đậy nấp. Thực phẩm đã nấu chín để bán cho khách được nhiều hàng quán bày trên vỉa hè mặc cho gió bụi, ruồi muỗi xâu xé. Thậm chí người ta còn bày ngay trước cổng các bệnh viện, gần những nơi nước đọng rác bẩn… Rõ ràng những hình ảnh này chỉ có thể báo hiệu những điều không lành đối với những người sử dụng nó.
Thanh Mai -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (4(108))1999.

Long đong cơm hàng cháo chợ – phần 1

Thật khó mà thống kê được ở Hà Nội số lượng người ăn cơm hàng quán là bao nhiêu. Chỉ biết rằng cùng với tiến trình đô thị hóa mau lẹ hiện nay thì số người gặp đâu ăn đấy ngày càng nhiều. Từ những học sinh, sinh viên người lao động ngoại tỉnh đến các công nhân nhà máy, nhân viên các công sở… đều có thể là thượng đế của các hàng cơm bụi, các quán cháo phở bình dân… Điều này dẫn đến việc phát triển tràn lan các hàng quán khắp các phố xá Hà Nội, vào sâu mọi hàng cùng ngõ hẻm, “đổ bộ” đến các công viên, khu vui chơi giải trí, trường học, bệnh viện… hậu quả tai hại là những đầu óc kinh doanh coi lợi là trên hết đã bất chấp tất cả để hằng ngày hằng giờ đầu độc hàng triệu thực khách bằng những thực phẩm không đảm bảo chất lượng và sự an toàn vệ sinh cần thiết.
Những thủ thuật lừa thực khách
Theo chân những người lao động nghèo tôi vào một quán cơm bình dân ở gần chợ Hàng Da. Quán nhỏ, khách lại đông nên rất chật chội. Người ta kể cả bàn ghế ra vỉa hè cho khách ăn cơm. Chủ quán liếc nhìn tôi như để đánh giá đối tượng và đáp cộc lốc: Ở đây một suất cơm là 4 nghìn đồng ăn không đủ no đâu, gọi thêm đi. Tôi đồng ý. Suất cơm bình dân là 6 nghìn đồng được dọn ra gồm một bát cơm nấu bằng thứ gạo xấu lại khô cứng, một đĩa rau cải xào bé nhỏ, mấy miếng đậu sốt khiêm tốn và hai miếng thịt khoi lõng bõng nước. Tôi vừa văn vừa bắt chuyện với một bát tô to đầy ú ụ cơm, bên cạnh là đĩa dưa chua và một ít lạc rang: Cơm ở đây có vẻ đắc bác nhỉ? Bác sồn cồn liền quay sang nói nhỏ cho tôi biết giá thực phẩm nội thành khá đắt. Vả lại, vì thấy tôi không phải là tướng con nhà lao động lại không là khách quen nên chủ quán “Bắt chẹt”. Chứ ở đây khách toàn là thợ xây, người bốc vác thuê, dân xích lô xe thồ thì chỉ ăn suất cao nhất 5 nghìn đồng thôi là vừa lửng dạ, “không mơ” đến chữ ngon. Đấy là chưa kể những hôm phải nuốt cơm nguội từ bữa trước còn lại, ăn món đậu thiu và canh thừa mà chủ quán cứ cãi phăng là mới nấu. Tôi hỏi tiếp: Sao các bác không tìm quán khác? Bác cười mũi: Tìm ở đâu? Quán nào nóng sốt ngon lành một chút là giá đã trên bình dân rồi. Mình ít tiền thì phải chị thôi. Tôi gọi thêm bát canh và thấy chủ quán cẩn thận cộng thêm vào cuốn sổ nhỏ 2 nghìn đồng trước khi mang canh đến và luôn miệng quảng cáo món canh xương “ngon đáo để”.
Thanh Mai -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (4(108))1999.

AIDA – Bạn sẽ trở thành khách du lịch

Trong một khu tập thể nhà cao tầng có nhiều bé trai và bé gái. Trong số đó có một em gái tên là AIDA. Em gầy và bé nhỏ hơn các bạn cùng tuổi. Cũng như những cô bé và cậu bé khác, chiều chiều em lại xuống sân chơi cùng các bạn. Trong số bạn cùng chơi ở sân, em chú ý đến 2 bạn gái xinh đẹp, một cô có đôi mắt xanh thẳm, một cô có bím tóc dài óng ả. Hai cô bạn luôn làm AIDA phải để mắt nhìn. Cô thích thù mà mắt xanh biếc và bím tóc dài đầy quyến rũ. Lòng mong muốn của AIDA được kết bạn, được giành tình yêu yếm của mình cho 2 cô gái mới mãnh liệt làm sao. Lúc em đến gần cô này, lúc lại đến gần cô kia, cố tìm cách làm thân với họ. Nhưng 2 bạn gái thì vẫn thờ ơ, lạnh nhạt. Họ chẳng chịu chơi với AIDA, cứ như AIDA là người xa lạ đối với họ. Cách cư xử đó đã không dập tắt được tình yêu bạn bè trong AIDA mà càng làm cho nó trỗi dậy mãnh liệt hơn. Và thế là AIDA giành tình yêu nồng cháy đó cho bạn sao lấp lánh ở nơi xa thẳm. Đêm đêm, AIDA ngồi bên cửa sổ, nhìn bạn sao lấp lánh giữa bầu trời, thủ thỉ những lời ngọt ngào về tình bạn của tuổi thơ.
Tôi muốn là bạn thân của bạn, tôi muốn được tâm tình và chia sẻ với bạn tất cả những gì tôi có và được nhận tình bạn của bạn. Bạn sao sống ở xa xăm và chỉ le lói những ánh sáng yếu ớt. Nhưng tình bạn của AIDA sâu xa và mạnh mẽ đến nỗi bạn sao đã cảm nhận và trả lời.
Từ nay chúng ta sẽ là bạn tốt của nhau, mãi mãi như vậy.
Đôi mắt của AIDA ánh lên niềm hạnh phúc lớn lao. Em đã mong muốn và đã hành động đến cùng cho niềm tin và tình yêu đã trỗi dậy trong em. Câu chuyện có vẻ huyền ảo và lãng mạn. Nhưng nó đã phản ánh đúng trạng thái tâm lý, nguyên nhân, các yếu tố thúc đẩy và con đường dẫn tới hành động không thể tránh khỏi. Du lịch là ngành du lịch con người. Vì vậy các nhà hoạt động du lịch đã quan tâm đến hiện tượng này và nghiên cứu về con đường biến nhu cầu du lịch thành khách du lịch hay nói cách khác, giới thiệu sản phẩm du lịch như thế nào, để có khách du lịch đến với sản phẩm du lịch. Con đường đến với sản phẩm du lịch được hình thành và mang tên AIDA. AIDA được chia thành 4 giai đoạn. Gây sự chú ý và lôi cuốn khách tập trung suy nghĩ về sản phẩm du lịch. Làm cho họ thấy thích thú và say sưa với sản phẩm (Internet – thích thú) Nâng những ấn tượng ban đầu thành sự mong muốn đến với sản phẩm. Tạo mọi điều kiện để họ đi du lịch đến điểm có sản phẩm. Bé AIDA sẽ mãi mãi là chúng ta.
Đàm Viết Lọc -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (6(110))1999.

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sẽ khai thác mọi tiềm năng du lịch

Việc thành lập trung tâm lữ hành của OSC Việt Nam, sẽ là cầu nối đưa du khách đến các điểm du lịch
Tại hội nghị triển khai Pháp lệnh Du lịch, chương trình hành động quốc gia và các sự kiện du lịch năm 2000 do tổng Cục Du lịch tổ chức trong 2 ngày 9 và ngày 10 tháng 6 năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ông Lâm Thành Tâm giám đốc Sở du lịch tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã có bài phát biểu, thảo luận xoay quanh những vấn đề về du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Phóng viên báo Tuần Du lịch đã được ghi bài phát biểu trên. Tỉnh ủy Bà Rịa Vũng Tàu đã ra nghị quyết về phát triển du lịch, xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp. Năm qua ngành du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu đạt doanh thu trên 900 tỷ đồng, có 3 triệu lượt khách quốc tế và nội địa đến Bà Rịa – Vũng Tàu, trong đó có hơn 200 nghìn lượt khách quốc tế, đối tượng chủ yếu là học sinh, sinh viên và cán bộ công nhân các công ty cao su, ngoài ra có một số đối tượng là khách khác. Lượng khách quốc tế đến gồm đủ các nước châu Á, châu u… Du khách đến Bà Rịa – Vũng Tàu để nghỉ dưỡng cuối tuần, hoặc du lịch kết hợp với văn hóa, du lịch kết hợp với thể thao, du lịch cảnh quan môi trường. Để sản phẩm du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được phong phú, đa dạng có nhiều điểm vui chơi, giải trí, và tham quan cho du khác, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã trích vốn ngân sác 40 tỷ đồng để đầu tư khu du lịch trên bãi biển Thùy Vân. Sở du lịch đã lập các dự án đầu tư cáp treo từ Bãi Trước đến Bãi Sâu, khu đua mô tô, sân bóng trên bãi biển, một dự án lớn nhất đó là Làng Văn hóa Việt Nam ở Núi Dinh có diện tích là 6 nghìn héc ta. Sở du lịch sẽ phối hợp với Sở Văn hóa thể thao đăng cai giải cờ vua có nhiều nước tham gia, nếu tổ chức được giải này sẽ thu hút một lượng khách du lịch khá lớn. Hiện nay, công ty Du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam (OSC Việt Nam) cũng đang triển khai thành lập Trung tâm lữ hành OSC Việt Nam, đó là một việc cần thiết, là chiếc cầu nối đưa du khách từ các nơi lưu trú đến các điểm du lịch. Ngoài ra, vào các tối thứ 6 hàng tuần Sở du lịch tổ chức gặp gỡ các báo đài với các khu du lịch để thông tin tuyên truyền về du lịch.
Bán
Tòa soạn bóa anh có bán nguyệt san không?
Không bán nguyệt san, mà chỉ có bán bán nguyệt san!
Bán bán nguyệt san nghĩa là tuần báo?
Bán nguyện san là bán nguyệt san chớ sao là tuần báo được?
Sao tôi hỏi có bán nguyệt san không, anh nói không, chỉ có bán bán nguyệt san?
Ối trời, tôi tưởng anh hỏi có bán thì anh mua, nên tôi nói không có bán nguyệt san, chỉ bán bán nguyệt san thôi. Rõ chưa!.
PV -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (25(77))1999.

Lực bất tòng tâm

Giữa năm 1998, có một sự kiện nhỏ khiến cả Sở Thương mại – Du lịch và Công ty du lịch Hà Giang cùng xông xao lên. Ấy là bức thông điệp từ một công ty du lịch dưới Hà Nội. Có hai du khách Pháp muốn lên thăm Hà Giang bằng trực thăng đã thuê máy bay của Công ty bay Du lịch tại Hà Nội. Yêu cầu ngành Du lịch Hà Giang chuẩn bị bão đáp máy bay, thuê giúp một xe ô tô để đi một vòng quanh thị xã. Rồi về, giá cho toàn bộ dịch vụ này là 15 triệu đồng. Một cái giá không đến nỗi bèo. Vả lại cái được lớn hơn là mở ra một loại hình tour du lịch bằng trực thăng Hà Nội – Hà Giang, mở một luồng du khách nước ngoài (chủ yếu là người Pháp) đến với mảnh đất kỳ thú Hà Giang. Sở Thương Mại – Du lịch giao cho Công ty du lịch nghiên cứu, trả lời gấp. giám đốc Công ty du lịch Nguyễn Bản Xuân bươn bả lên Tỉnh ủy, Ủy ban xin ý kiến, sang Bộ chỉ huy quân sự, Sở Công an nhờ giúp đỡ trong khâu an ninh, khâu rà phá bom mìn… Cuối cùng đành trả lời phía công ty bạn dưới Hà Nội: Xin khất các bạn khách Pháp một dịp khác. Ngành du lịch Hà Giang chưa có điều kiện để đón khách quý. Câu chuyện trên chỉ là một trong nhiều ví dụ về cái sự “lực bất tòng tâm” của một đơn vị làm du lịch non trẻ mới được thành lập. giám đốc Sở Thương mại – Du lịch Phạm Văn Bồng Tâm sự: Du lịch Hà Giang với tiềm năng rất lớn, nhưng việc đầu tư, khai thác hầu như mới chỉ bắt đầu. Tháng 10 năm 1995 chúng tôi báo cáo với tỉnh tách công ty Thương mại, thành lập Công ty Du lịch. Do chưa có kinh nghiệm làm du lịch, lãnh đạo Công ty chỉ thiên về làm thương mại, chệch hướng, nên tháng 7 năm 1997 chúng tôi phải thay lãnh đạo mới. Đồng chí Nguyễn Bản Xuân được điều từ Sở xuống điều hành công ty, lại mò mẫm hoạt động từ đầu. Nhìn vào đội ngũ làm du lịch của Công ty Du lịch Hà Giang, nhận ra, ngay cái sự thiếu hụt chung của cả ngành du lịch, nhất là các tỉnh miền núi như Hà Giang: Trong 60 cán bộ công nhân viên hầu như chưa ai kinh qua một trường lớp đào tạo du lịch. Những cử nhân, kỹ sư có bằng cấp cao nhất lại là người được đào tạo từ các trường đại học Ngoại thương (anh Xuân), đại học Thương mại (anh Nghi, anh Giang), đại học Ngoại ngữ (cô Hiền)… Cả công ty chưa có một hướng dẫn viên du lịch chính quy. Cái chất nghiệp du này biểu hiện rõ nhất và nhờn tiền ai cũng thấy, ấy là hệ thống cơ sở vật chất của Công ty. Mặc dù tọa lạc trên trục đường chính lên cửa khẩu Thanh Thúy, ngay giữa trung tâm thị xã, một vị trí lý tưởng để đón khách, vậy mà từ khách sạn đến nhà hàng vẫn là những dãy nhà cũ kiểu “Cửa hàng ăn uống”, “Bách hóa tổng hợp”, “Nhà nghỉ công cộng” của hai, ba mươi năm trước. giám đốc Nguyễn Bản Xuân cho biết: Năm ngoái có những đợt khách Trung Quốc sang tới vài chục người. Nếu đông tới 100 khách thì cả thị xã Hà Giang không có chỗ ngủ. Bởi trừ hai khách sạn tư nhân Phương Đông và Hương Giang (khoảng 15 buồng phòng), còn lại mấy khách sạn, nhà khách của tỉnh cũng chỉ đủ chỗ cho 50 người. Rõ ràng nhu cầu xây dựng một đội ngũ cán bộ làm du lịch giỏi, những cơ sở lưu trú, vui chơi giải trí, ngay tại thị xã Hà Giang là một vấn đề đang đặt ra cấp thiết, tạo đà cho việc khai thác tiềm năng thiên nhiên, bản sắc văn hóa dân tộc Hà Giang. Kế hoạch sẽ sáp nhập công ty xuất nhập khẩu Thương mại vào với Công ty du lịch để tạo nên một tổ chức đủ mạnh, việc xây dựng một trung tâm thương mại tại cửa khẩu Thanh Thủy, việc đưa điện, mở đường vào hang Tùng Vài, qui hoạch Hồ Noong, chuẩn bị khai thác suối nước nóng Quảng Ngần, cải tạo và xây dựng một khách sạn lớn ở vị trí Công ty Du lịch hiện tại…là những phác thảo rất lạc quan và có cơ sở để du lịch Hà Giang phát triển. Điều thuận lợi rất cơ bản là những hoạch định trên của ngành du lịch Hà Giang đã được lãnh đạo tỉnh, đặc biệt là đồng chí Bí thư tỉnh ủy Vũ Ngọc Kỳ tâm đắc và ủng hộ. Tâm đã đồng. Chỉ còn lực nữa thôi. Tất nhiên với một tỉnh biên cương núi đá như Hà Giang, ngoài nỗ lực của tỉnh, rất cần sự đầu tư của Nhà nước, sự trợ giúp và đóng góp của bạn bè khắp mọi miền Tổ quốc.
Minh Quang -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (26(78))1999.

Phấn đấu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế động lực của Lâm Đồng – Phần 2

Đồng chí Đặng Đức Lợi: Để thu hút khách, trước hết tỉnh có chính sách khuyến khích thu hút vốn đầu tư vào du lịch mà trước hết là ưu tiên đầu tư vào danh lam thắng cảnh vui chơi giải trí tạo thêm nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú, hấp dẫn khách du lịch, đây là cái nền rất quan trọng của ngành kinh tế du lịch Lâm Đồng. Ngoài ra chúng tôi sẽ nâng cao chất lượng các dịch vụ, xây dựng những điểm du lịch xanh, sạch, đẹp, tạo môi trường văn minh, lịch sự và an toàn. Đồng thời chúng tôi sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của Tổng cục Du lịch, các địa phương bạn để làm tốt công tác tuyên truyền, quảng bá giới thiệu hình ảnh Lâm Đồng với cả nước và ra nước ngoài, phối hợp chặt chẽ với các hãng lữ hành trong và ngoài nước để thu hút khách trong nước và quốc tế đến Đà Lạt – Lâm Đồng. Lâm Đồng đã xây dựng chương trình hành động du lịch và những sự kiện du lịch năm 2000 của tỉnh. Trên cơ sở chương trình này, tỉnh sẽ có chính sách khuyến khích cụ thể và thích hợp để bà con trong cả nước và khách quốc tế có dịp đến với Đà Lạt – Lâm Đồng nhiều hơn với thời gian lâu hơn.
Phóng viên: Được biết từ nay đến năm 2000 và những năm đầu của thế kỷ 21 Lâm Đồng có những dự án trên nhiều lĩnh vực, xin đồng chí cho biết tổng quát định hướng phát triển nhất là trên lĩnh vực du lịch?
Đồng chí Đặng Đức Lợi: Lâm Đồng có nhiều dự án để phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến từ nguyên liệu sẵn có của địa phương nhằm khai thác và phát huy tiềm năng và thế mạnh của tỉnh. Du lịch cũng là một ngành có nhiều dự án và cũng là ngành mà tỉnh đặt nhiều hy vọng. Những năm qua, đã có 2 dự án nước ngoài được cấp phép đầu tư vào du lịch có 2 dự án liên doanh trong nước và 1 số dự án đầu tư của thành phố Hồ Chí Minh và Lâm Đồng khai thác phát triển cảnh quan danh lam thắng cảnh. Tỉnh Lâm Đồng xác định có ba vùng du lịch như sau: Thành phố Đà Lạt, và vùng phụ cận thuộc các huyện: Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà, Lạc Dương. Thị xã Bảo và vùng phụ cận thuộc các huyện Du Linh, Đạ Huoai, Bảo Lâm. Huyện Cát Tiên với vườn quốc gia và khu di tích khảo cổ. Trong những năm còn lại của cuối thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21 tỉnh Lâm Đồng sẽ tập trung thực hiện cho được những dự án đã cấp phép đầu tư ở Đà Lạt để tạo cho Đà Lạt có bước chuyển biến thực hiện về quy mô và chất lượng hoạt động du lịch. Đồng thời cũng thực hiện một số dự án ở Đức Trọng, Bảo Lộc và từng bước đầu tư cơ sở hạ tầng để có thể khai thác điểm du lịch Cát Tiên, mở rộng không gian du lịch. Tỉnh cũng có chính sách phát huy các thành phần kinh tế và nhân dân trong tỉnh sản xuất hàng hóa, tổ chức dịch vụ với chất lượng ngày càng cao để phục vụ cho du khách. Đồng thời dành nhiều ưu tiên cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực du lịch. Du lịch là ngành kinh tế còn chưa được phát triển, vì vậy tỉnh Lâm Đồng rất mong được sự quan tâm giúp đỡ của tổng cục du lịch, các bộ ngành Trung ương, các tỉnh bạn để sớm đạt được mục tiêu đề ra.
Phóng viên: Xin cảm ơn đồng chí.
Trần Đình Cầu -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (25(77))1999.

Phấn đấu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế động lực của Lâm Đồng – Phần 1

Phóng viên: Xin đồng chí cho biết những bước phát triển về kinh tế – xã hội của Lâm Đồng, nhất là trong lĩnh vực du lịch trong những năm qua?
Đồng chí Đặng Đức Lợi: Những năm qua, kinh tế xã hội của Lâm Đồng đã có bước phát triển đáng kể. Năm 1998 tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng so với năm 1997 GDP của Lâm Đồng cũng tăng gần 6%. Nhiều chỉ tiêu sản xuất tăng hơn năm trước, trong đó các ngành dịch vụ tăng 8% so với năm trước. Cơ sở hạ tầng được đầu tư tăng thêm, lĩnh vực văn hóa – xã hội chuyển biến tích cực, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định là điều kiện cho du lịch phát triển. Trong sự tiến bộ chung của tỉnh, ngành du lịch Lâm Đồng những năm qua cũng đạt được những kết quả đáng phấn khởi. Đó là, bước đầu hình thành được hệ thống kinh doanh về danh lam thắng cảnh, vui chơi giải trí, khách sạn, nhà hàng, lữ hành, vận chuyển… Huy động được toàn xã hội đầu tư phát triển du lịch, đã có 20 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 5 sao với gần 800 phòng đạt tiêu chuẩn đón khách quốc tế, đã xây dựng được đội ngũ cán bộ công nhân viên với hơn 2 nghìn người trong đó hơn 58% được đào tạo từ sơ cấp đến đại học. Tỉnh Lâm Đồng đã đón lượng khách du lịch đến Đà Lạt – Lâm Đồng tăng nhanh (năm 1993 là 300 nghìn khách thì đến năm 1998 là 600 nghìn khách thu nhập xã hội từ du lịch, doanh thu của ngành và đóng góp của ngành vào ngân sách Nhà nước nắm sau cao hơn năm trước. Đây là những cố gắng đáng biểu dương đối với ngành du lịch và đó cũng là những tiền đề cho du lịch phát triển vào những năm sau.
Phóng viên: Đồng chí có thể giới thiệu khái quát về du lịch về du lịch tỉnh Lâm Đồng nói chung và Thành phố Đà Lạt nói riêng?
Đồng chí Đặng Đức Lợi: Đà Lạt – Lâm Đồng là tỉnh có tiềm năng lớn về tài nguyên thiên nhiên và nhân văn, là nơi thích hợp cho việc nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái. Nhận thức được điều đó những năm qua Đảng bộ và chính quyền tỉnh Lâm Đồng đã có chủ trương xây dựng phát triển du lịch thành ngành kinh tế động lực của tỉnh. Đó là phát huy lợi thế cảnh quan thiên nhiên để đầu tư xây dựng phát triển các danh lam thắng cảnh, phát triển du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái, thể thao, hội nghị, khai thác sự phong phú đa dạng về văn hóa của các dân tộc Lâm Đông để phát triển du lịch văn hóa lễ hội. Trong quá trình phát triển du lịch lấy thành phố Đà Lạt nơi có những điều kiện thuận lợi sẵn có làm hạt nhân để khai thác các vùng phụ cận nhanh chóng biến Đà Lạt – Lâm Đồng trở thành một trung tâm du lịch núi hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc. Có như vậy mới phát huy được thế mạnh của mình và cùng phát triển như các trung tâm du lịch trong cả nước để từng bước vươn ra hội nhập quốc tế.
Phóng viên: Để thu hút khách đến với Lâm Đông, trong thời gian tới Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ có những chính sách khuyến khích nào?.
Trần Đình Cầu -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (25(77))1999.