Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng làm việc với Tây Ninh, Bình Thuận, và Ninh Thuận

Từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 23 tháng 3 năm 2000, Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng cùng Trưởng đại diện Văn phòng Tổng cục Du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đi họp và làm việc với 3 tỉnh là Tây Ninh, Ninh Thuận, và Bình Thuận. Tại Tây Ninh, Tổng cục trưởng làm việc với đồng chí Bí thư tỉnh ủy và đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Các đồng chí lãnh đạo tỉnh cảm ơn sự quan tâm của Tổng cục Du lịch trong những năm vừa qua và đặc biệt là sự quan tâm của Tổng cục trưởng đã chỉ đạo sát sao cơ sở trong việc thực hiện Chương trình hành động quốc gia về Du lịch. Đồng chí Võ Thị Thắng đến làm việc trực tiếp với toàn ban lãnh đạo Sở Thương mại – Du lịch tỉnh và Công ty du lịch Tây Ninh là doanh nghiệp Nhà nước lớn nhất tỉnh, hoạt động đạt hiệu quả cao. Sau khi báo cáo tình hình chung, lãnh đạo Sở đã đề xuất một số kiến nghị với Tổng cục. Kiến nghị được nêu cụ thể là: Tổng cục Du lịch đề nghị với chính phủ cho phép mở tuyến du lịch xuyên Việt – Campuchia qua cửa khẩu quốc tế Mộc Bài. Nếu được sẽ thu hút nhiều khách quốc tế vào Việt Nam, không chỉ là người Campuchia mà còn có Thái Lan, châu u… Hiện tại, Tây Ninh mới chỉ được cấp giấy thông hành cho người dân Tây Ninh, sang Campuchia, nay đề nghị Chính phủ cho phép Tây Ninh được cấp giấy thông hành cho nhân dân các tỉnh khác được sang Campuchia. Hoặc đi theo hình thức cấp thị thực rời cho khách quốc tế đến Việt Nam muốn sang thăm Campuchia rồi lại trở lại Việt Nam. Đồng chí Võ Thị Thắng phát biểu tỏ ý rất mừng ngành du lịch của tỉnh hoạt động có hiệu quả lành mạnh, có hướng đi lên phát triển khá nhanh do sự năng động của địa phương. Sở và các doanh nghiệp sáng tạo, luôn có y thức xây dựng, tìm kiếm sản phẩm du lịch đặc thù để thu hút khách. Môi trường du lịch văn minh, lịch sử, an toàn nơi đây có thể là điển hình tiêu biểu cho các địa phương khác đến học tập. Tại Bình Thuận và Ninh Thuận các đồng chí Bí thư tỉnh ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, cùng lãnh đạo Sở Thương mại – Du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn 2 tỉnh đã báo cáo kết quả hoạt động thực trạng, tiềm năng du lịch và chương trình phát triển du lịch của tỉnh trong thời gian tới với Tổng cục trưởng và đoàn công tác.
Bình Thuận từ năm 1997 đến năm nay, hoạt động du lịch đã đi vào chiều sâu, khách quốc tế năm 1999 tăng 40% so với năm 1995. Riêng quý I năm 2000 tăng 10% so với quý I năm 1999 lượng khách quốc tế và nội địa tăng nhanh hơn quá nhiều so với dự báo. Doanh thu từ du lịch tăng 40% năm 1995 là 30,5 tỷ đồng, năm 1999 là 90 tỷ đồng, dự kiến năm 2000 là thu 120 tỷ đồng. Đầu tư cho phát triển du lịch vốn nước ngoài và trong nước 35 dự án với tổng số tiền 560 tỷ đồng để xây dựng các khu, điểm, làng du lịch, khách sạn và sân gôn. Với một tỉnh có nhiều tiềm năng du lịch như Bình Thuận được lãnh đạo tỉnh luôn tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, đầu tư cho du lịch là chủ yếu chắc chắn du lịch Bình Thuận sẽ có nhiều hứa hẹn trong tương lai. Sau khi nghe tình hình của tỉnh, Tổng cục trưởng đi thăm một số khu du lịch của 2 tỉnh khu du lịch Mũi Né, bãi biển Cà Ná, Làng dân tộc Chăm. Khu du lịch Ninh Chữ, Di tích lịch sử Tháp Chàm, làng nghề truyền thống dệt thổ cẩm, làng trồng nho… Tổng cục trưởng nhắc nhở các doanh nghiệp của tỉnh 2 cần quan tầm đến chất lượng phục vụ khách hơn nữa. Đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên đảm bảo chất lượng không nên chạy theo số lượng, môi trường du lịch phải giữ được sạch, an toàn…. Để thu hút khách quốc tế, khách nội địa đến lần 2, lần 3. Bình Thuận và Ninh Thuận đều đề nghị Tổng cục du lịch hỗ trợ cho tỉnh về in ấn phẩm quảng bá về tiềm năng du lịch tỉnh ra nước ngoài bằng kinh phí của Chương trình hành động quốc gia. Giúp tỉnh trong đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước về du lịch cán bộ quản lý các doanh nghiệp và công chức, nhân viên phục vụ trong các doanh nghiệp, khách sạn…
Hà Lan -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 22(126)2000.

Lễ hội mừng đảng – mừng xuân của Thủ đô Hà Nội

Kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 3 tháng 2 năm 1930 đến ngày 3 tháng 2 năm 2000 và phục vụ nhân dân Thủ đô vui Tết Canh Thìn, thành phố Hà Nội tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và vui chơi giải trí với quy mô của một lễ hội lớn: Biểu diễn nghệ thuật ngoài trời vào tất cả các tối từ ngày 2 tháng 2 đến ngày 7 tháng 2 năm 2000 tại 5 sân khấu lớn của thành phố: Sân khấu đền Bà Kiệu, Nhà Kèn vườn hoa I . Gandi, tượng đài Lê nin, công viên văn hóa Đống Đa, công viên Lê nin.
Lễ hội tuổi trẻ thủ đô báo công với Đảng với Bác Hồ kính yêu, kết hợp diễu hành của Tuổi trẻ toàn thành phố vào tối ngày 3 tháng 2 năm 2000 tại quảng trường Lăng Bác.
Chương trình Trống hội Thăng Long, Thả đèn trời và các tiết mục dân tộc đặc sắc trên sân khấu nổi hồ Thiền Quang vào tối giao thừa ngày 4 tháng 2 năm 2000.
Lễ hội Bắn pháo hoa vào thời khắc giao thừa tại hồ Hoàn Kiếm, hồ Tây và hồ Bảy Mẫu.
Đua Thuyền Rồng trên hồ Hoàn Kiếm vào chiều ngày 6 tháng 2 và sáng ngày 7 tháng 2 năm 2000 tức mùng 2 và mùng 3 tết canh Thìn.
Bên cạnh các hoạt động đặc sắc này tại Hồ Kiếm lần đầu tiên xuất hiện mô hình trang trí Rồng bay trên nền ánh sáng trắng quanh hồ tạo nên nét kỳ ảo, thơ mộng thiêng liêng trong thời khắc giao thừa. Sở Văn hóa – Thông tin phối hợp với Công ty Công viên cây xây triển khai thí điểm bán cành lộc xuân nhằm hạn chế thấp nhất tác hại của nạn hái lộc đầu năm mới Canh Thìn.
Ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam – Tổng kết cuộc vận động ủng hộ đồng báo miền Trung
Chiều ngày 24 tháng 1, Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam đã tổng kết cuộc vận động quyên góp ủng hộ giúp đỡ đồng bào miền Trung khắc phục những thiệt hại do lũ lụt gây ra cuối năm vừa qua. Ngay sau khi Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam phát động, với truyền thống đoàn kết, tinh thần tương thân tương ái lá lành đùm lá rách, đồng bào, chiến sĩ các nước, kiểu bào ta ở nước ngoài, các tổ chức quốc tế… đã nhiệt tình hưởng ứng cuộc vận động. Tính đến hết tháng 12 năm 1999, số tiền đã quyên góp được hơn 233,2 tỷ đồng tiền Việt Nam, hơn 57,5 nghìn đô la Mỹ, 38,6 nghìn Frăng Pháp, 440.548 Yên Nhật, 3100 Mác Đức, 100 Bạt, 4.970 đô la Úc và 17 chỉ vàng cùng gần 4 nghìn tấn hàng hóa các loại. Số tiền và hàng hóa trên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã kịp thời chuyển tới các vùng bị thiệt hại ở Miềm Trung, giúp đồng bào sớm ổn định cuộc sống, khôi phục sản xuất.
Phạm Thúy -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 8(112)2000.

Y miếu – Võ miếu ở đâu?

Chúng ta ai cũng rất quen với Văn Miếu. Thế nhưng cho đến nay, nhiều người, kể cả những người đang hoạt động trong ngành võ thuật còn chưa biết rằng tại Thăng Long thời xưa ngoài Văn Miếu còn có Võ Miếu và Y Miếu. Y Miếu thời xưa được xây dựng về phía đông Văn Miếu, là nơi thờ các vị danh y có công lớn nền y học phương đông. Y Miếu được khởi công xây dựng từ thời vua Lê Hiển Tông, hoàn thành vào năm Canh Ngọ năm 1760, đến năm 1774 giáp Thân thì được tu bổ và mở rộng thêm. Năm 1834, Y Miues lại được trùng tu một lần nữa. Từ năm 1930 đến năm 1954, Y Miếu được sửa chữa lại ba lần. Lần thứ nhất là vào năm 1930 do Hội Chấn hưng Thượng Hà Đông thực hiện. Trước đó tại Y Miếu chỉ thờ ba vị thành nghề thuốc là Phục Hy, Thần Nông, và Hoàng đế. Trong lần trung tu này, hai danh y của Việt Nam là Tuệ Tĩnh và Lãn Ông đã được đưa vào Y Miếu để nhân dân thờ cúng. Lần thứ hai là năm 1934, Bắc Kỳ Y học Hội lại sửa lại mái hiên, làm sân, xây lối đi từ cổng vào sân, vào hiên, vào miếu. Lần thứ ba là vào năm 1952, Tổng chi Bắc Việt của Hội Y Dược học Việt Nam đứng ra sửa chữa và mở rộng. Hàng năm vào ngày 15 tháng giêng âm lịch, những người làm nghề đông y dược tụ họp, làm lễ kỷ niệm và tưởng thớ đến công lao của các vị tiền bối đã có công sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam. Ngày nay Y Miếu đã là di tích được Nhà nước xếp hạng. Nếu bạn một lần ghé qua phía đông của chợ Ngô Sĩ Liên – Hà Nội, bạn sẽ có dịp tiềm hiểu Y Miếu xưa. Còn Võ Miếu vào thời xưa nằm ở vị trí giữa ngã tư phố Hoàng Diệu và Điện Biên Phủ ngày nay gần bảo tàng Quân Đội. Năm 1740 nhà Lê quy định cách thờ ở Võ Miếu với ngôi vị cụ thể ở chính giữa thờ Võ Thành Vương, Thái Công Vọng, còn hai bên Đông Vũ và Tây Vũ thờ từ Tôn Vũ Tử, Quản Tử trở xuống tất cả là 18 người, Trần Hưng Đạo, Đại Vương Quốc Tuấn cũng thờ theo vào Võ Miếu dựng miếu riêng Quan công nhà Hán. Hàng năm Võ Miếu tổ chức hai kỳ lễ tế vào mùa xuân và mùa thu, đều vào ngày mậu thượng tuần. Ở triều đại nhà Tây Sơn chưa kịp mở trường võ học và Võ Miếu. Sang thời Nguyễn, tại Huế có lập Võ Miếu gần Văn Miếu năm 1835, nằm ở phía bên phải Tả văn và hữu võ. Võ Miếu thuộc ấp Nội Sùng, huyện Hương Trà – Huế gồm có 2 nhà chính đường 3 gian 2 chái và tiền tế 5 gian, rồi thêm 2 tòa thờ phụ ở 2 bên tả hữu đều 5 gian, xung quanh xây tường gạch, mặt trước xây một nghi môn, hai bên tả hữu đều có cửa tò vò, bộ lễ cân nhắc các đơn vị được thờ: Thái công tức Chu Thượng Phụ Khương thái công giống Trung Quốc và thời Lê ở ta, Tôn võ tử, Điền nhượng Thư, Quản Trọng, Lý Tĩnh, Trương lương, Hàn Tín, Gia Cát Lượng, quách Tử Nghi và Lý Thanh. Các tướng Việt Nam: Trần Quốc Tuấn, Lê Khôi, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến, Tôn Thất Hội và Nguyễn Văn Trượng tất cả 6 người được thờ phụng ở nhà giải Vũ Tả Hữu. Hàng năm vào Xuân Thu nhị kỳ, lễ tế được tổ chức gồm một con trâu, một con dê, hai con lợn, năm mâm xôi. Thường ngày, Võ Miếu được chăm sóc bởi 20 người dân gần làm thủ hộ. Năm 1861 vua Tự Đức chuẩn định thi hội võ 3 năm một lần, tổ chức vào tháng 5, làm lễ điện ở Võ Miếu, ai đỗ được khắc tên ở bia đá để hai bên sân trước Võ Miếu. Như vậy lập ra Võ Miếu đã giáo dục và khích lệ tinh thần thượng võ, định hướng cái đạo trong võ cái nghĩa luôn được coi trọng. Lược qua lát cắt, ta thấy ngoài Võ Miếu Hà Nội, Văn Miếu – Bắc Ninh, Văn Miếu – Huế ta còn có Y Miếu – Hà Nội, Võ Miếu – Hà Nội, Võ Miếu – Huế. Cả thảy có 2 Võ Miếu. Qua đó ta thấy được phần nào việc coi trọng đề cao võ thuật thời xưa. Võ Miếu – Thăng Long xưa tuy không còn nhưng vị trí lịch sử của nó mãi mãi tồn tại cùng thời gian, nhất là giới yêu chuộng võ thuật.
Nguyễn Văn Long -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 7(111)2000

Du lịch năm 2000 với công nhân – nông dân bộ đội trí thức tiểu thương

Năm 1999 đã nhường chỗ cho năm 2000. Bắt đầu một năm mới người ta thường có những ước mơ, hy vọng có được và làm được nhiều điều. Vậy trong năm 2000 này người Việt Nam có quan tâm đến du lịch không? Họ có những suy nghĩ những góp ý gì về du lịch? Chúng ta hãy lắng nghe họ nói:
Anh Trần Duy – Thượng uy, sĩ quan thông tin Quân đội nhân dân Việt Nam.
Theo tôi được biết thì mục tiêu của Nhà nước và nhân dân ta là phấn đấu năm 2020 đưa đất nước thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong dịch vụ phải đứng hàng đầu và du lịch có vai trò lớn trong sự thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vì thế tôi tin là Nhà nước sẽ có những chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch hiện nay đang gặp khó khăn. Nói cách khác, du lịch là một ngành kinh tế có nhiều triển vọng trong tương lai. Là một người lính tôi đã từng đi khắp đó đây, song rất ít có điều kiện để có những chuyến đi du lịch theo đúng nghĩa của nó. Một ngày nghỉ cuối tuần thoải mái bên vợ con ở một khu du lịch nào đó luôn là mơ ước của tôi. Mong rằng sắp tới ngành du lịch sẽ có nhiều chính sách mới cải cách gia cả có nhiều chính sách mới cải cách giá cả cho phù hợp với từng đối tượng khách du lịch với khả năng của mình.
Bà Đỗ Thị Nhẽ công nhân thủy sản ở Nam Định: Tôi là công nhân cho nên công việc có tính chất thường xuyên nên khó có điều kiện đi du lịch. Tuy hàng năm cơ quan vẫn tổ chức đi tham quan, nghỉ mát cho công dân, nhưng những chuyến đi như vậy chỉ một hai ngày và những địa điểm gần hoặc quá quen thuộc. Tôi mong muốn sẽ được đi lâu hơn và xa hơn để tìm hiểu những điều chưa biết. Tôi cũng muốn những công ty du lịch sẽ có giá ưu đã đối với những người công dân như tôi, để khi được nghỉ phép hay ngày lễ, tết tôi có cơ hội được đến những nơi mà thời gian qua tôi chưa có điều kiện đến.
Ông Nguyễn Đức Dũng giảng viên Khoa Báo Chí – Phân viên Báo chí và tuyên truyền Hà Nội
Đương nhiên là tôi quan tâm đến du lịch, không chỉ vì du lịch là một ngành kinh tế quan trọng đối với đất nước ta mà tôi quan tâm đến du lịch trước hết là do du lịch đem đến sự thoải mái và bổ ích. Du lịch giúp tôi được thư giãn tinh thần cho tôi khám phá những điều mới mẻ, thú vị về phong cảnh, con người, phong tục tập quán của một vùng đất nào đó. Nghê nghiệp của tôi đòi hỏi tôi phải thường xuyên đi công tác xa. Chính những chuyến đi ấy là những chuyến du lịch của tôi. Đã đi nhiều nơi, nhiều khu du lịch, tôi thấy rằng nếu đi du lịch gắn với bản sắc văn hóa của từng vùng đất thì sẽ luôn hấp dẫn. Bởi như thế không những người nước ngoài được làm quen mà cả người Việt Nam cũng hiểu thêm về văn hóa Việt Nam. Tôi nghĩ năm 2000 du lịch Việt Nam sẽ phát triển hơn những năm qua bởi kinh tế đất nước đang khá lên, quan hệ quốc tế ngày càng tốt và ngành du lịch đang hoàn thiện mình. Tuy nhiên tôi cũng thấy những mặt trái của du lịch vẫn còn tồn tại và cần khắc phục như bói toán, mê tín dị đoan, ăn xin, chèo kéo du khách mua hàng, cờ bạc, mại dâm… Hy vọng những tệ nạn như thế này sẽ giảm trong năm 2000 và những năm sau. Hy vọng những vùng đất chưa được khai thác hoặc khai thác rất ít sẽ được chú ý đến nhiều hơn.
Kim Ngân -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 5 (109)2000.

Giám đốc sở Du lịch Hải Phòng tại Duy Trinh

Nhờ vị trí địa lý quan trọng, giao thông thuận lợi, nhiều thắng cảnh, lễ hội độc đáo, có bước phát triển mới trong việc mở rộng thị trường khách du lịch Trung Quốc nên năm 1999 Du lịch Hải Phòng vẫn đạt mức tăng trưởng khá. Cụ thể là cả năm đón 820 nghìn lượt khách tăng 16,3% so với năm 1998 và 7% so với kế hoạch đề ra, trong đó khách quốc tế là 150 nghìn lượt khách, tăng 24,6% so với năm 1998 và 40% so với kế hoạch. Riêng khách Trung Quốc tăng khá nhanh, chiếm 50% tổng số khách quốc tế. Tổng số doanh thu du lịch dịch vụ năm 1999 đạt 145 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 1998, nộp ngân sách nhà nước là 28 tỷ đồng. Trước đây Du lịch được xem là ngành kinh tế quan trọng của Hải Phòng. Nhưng trong chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2010, Thành ủy Hải Phòng đã xác định du lịch sẽ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Phát triển theo 2 định hướng là du lịch sinh thái biển kết hợp với văn hóa và làm tố nhiệm vụ trung chuyển. Định hướng du lịch sinh thái biển kết hợp với văn hóa xuất phát từ lợi thế Hải Phòng có 125 km bờ biển, có cảng biển lớn, có hai huyện đảo Bạch Long Vỹ và Cát Bà, có một bán đảo Đồ Sơn… Mặc khác, Hải Phòng lại là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa lịch sử với những lễ hội độc đáo như lễ hội chọi trâu Đồ Sơn, nghệ thuật múa rối, hát chèo, tục thả đèn trời… có nhiều di tích lịch sử như sông Bạch Đằng, nơi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Há, Trần Hưng Đạo đánh tan quân Nguyên – Mông, di tích lịch sử thành nhà Mạc, khu di tích danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm… nhiệm vụ trung chuyển xuất phát từ lợi thế Hải Phòng có vị trí địa lý rất quan trọng, là đầu mối giao thông giữa nước ta và các nước trong khu vực, cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, vừa có cảng biển lại có cả sân bay, đường bộ thuận tiện. Từ Hải Phòng có thể đi đến các tỉnh phía Bắc nước ta, các trung tâm du lịch lớn như Hồng Kông, Singapore, Băng Cốc, Trung Quốc…. và ngược lại một cách dễ dàng, thuận tiện hơn.
Bàn tiệc của nữ hoàng Anh Elizabeth
Có lẽ bạn chưa bao giờ được mời dự tiệc chiêu đãi của Nữ hoàng Anh Elizabeth phải không? Bức ảnh trên chụp chiếc bàn ăn có một không hai trên thế giới mà Nữ hoàng Anh Elizabeth dùng để mở tiệc chiêu đãi các vị quan khách. Hiện nay chiếc bàn dài vô địch này để tại phòng Thánh Georger trong Cung điện Vindzorski – Luân Đôn. Ngồi bên bàn tiệc là 166 vị khách không phân biệt địa vị cao thấp. Do số khách mời đông như vậy nên Nữ hoàng không thể nào nhớ hết được tên tuổi họ, thậm chí việc nâng cốc cũng chỉ làm tượng trưng, bởi nếu chạm cốc lần lượt từng người và hết lượt giữa Nữ Hoàng với khách giữa khách với khách thì con lâu bạn mới được ngồi xuống ăn súp nóng.
Trần Hưng – Lam Điền-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (9+10+11+12)2000.

Một số Đình – Chùa – Đền – Miếu vừa là chốn linh thiêng vừa là…. – Phần 2

Ở các quán Đạo hay ở nhiều chùa, Nam Tào và Bắc Đẩu chỉ thầu vào đức Ngọc Hoàng Thượng đế. Vậy đức thánh trần đã thay thế Ngọc Hoàng gốc Trung hoa để trở thành Ngọc hoàng của Đạo Nội nước Việt và được dân gian tôn làm Cha. Phủ giầy – Nam Định, Phủ Tây Hồ – Hà Nội và nhiều nơi khác đều thờ Mẫu Liễu Hạnh vị tứ bất tử cuối cùng. Từ bất tử gồm có:
Đức Thánh Tản Viên tức là Đức Thánh Sơn Tinh, là thần núi thiêng Ba Vì tượng trừng cho vùng núi.
Đức Thánh Phù Đổng đã nói ở trên là vị thánh Mưa, Dông, tượng trưng cho miền châu thổ Bắc Bộ.
Chử Đồng Tử – Phương Dung công chúa là biểu tượng cho thần chài sông nước và cũng là tổ sư nghề buôn từ sông đến biển. Và sau đó nữa. Đấy là nơi trú ngụ bình yên cho tâm hồn con người, tiếp sức, tiếp lực, tiếp năng lượng sống cho chúng ta bằng lòng tin đã được khắc khảm sâu sắc. Con người của thế kỷ nào đi chăng nữa vẫn là con người. Và cuối cùng là bà Mẫu Liễu. Bà đã được dân gian tôn làm Mẹ, là thần linh tính nữ của nước Việt Nam được thờ cúng và dân gian mở lễ hội Phủ giầy vào đầu tháng Ba lịch Trăng. Do đó châu Thổ Bắc Bộ mới có câu: “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”. Từ năm 1070, dưới thời Lý Thánh Tông đã xây dựng ở Thăng Long khu Văn Miếu để thờ đức tổ Đạo Nho Khổng Phu Tử cùng Tứ Phối là những học trò và hậu sinh của ông: Nhan, Hồi, Tăng Tử (Tăng Sâm), Tử Tư, Mạnh Tử, cùng thất thập nhị hiền. Các bậc đại nho Đại Việt Chu Văn An, Trương Hán Siêu đều được thờ phụng ở đó và đấy cũng là nơi đại linh nhân kiệt. Sau Văn Miếu là Quốc Tử giám từ thời Lý qua thời Trần Lê đã đào tạo hàng nghìn Trạng Nguyên, tiến sĩ mà phần lớn trong số họ là nhân tài của đất nước ta. Nhiều ngôi chùa nổi tiếng của Đại Việt như chùa Thầy, chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp, nhất là khu Trúc Lâm Yên Tử… là những chốn thiền môn nổi tiếng, những đại danh lam của nước ta, cũng như chùa Hương ở xứ Đoài, chùa Thiên Mụ ở xứ Huế, chùa giác Lâm, giác Viên ở Sài Gòn… đều là những chỗ linh thiêng được xây dựng vào những thời đại khác nhau. Tất cả đều được nhân dân ba miền Bắc – Trung – Nam sùng kính và hàng năm đều đặn mở ở đó những lễ hội tràn đầy tính chất văn hóa. Ngày nay, những nơi hành hương cũng đồng thời có thể là những trung tâm văn hóa du lịch như Tháp Bà Nha Trang, nơi thời Người mẹ xứ sở Ponoaga của người chăm – Khánh Hòa, đền Bà chúa Xứ trên núi Bà Đen – Châu Đốc – Tây Nam Bộ, rồi Thánh địa Mỹ Sơn và cảng thị Hội An xứ Quảng Nam vừa được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới. Vậy thì những đền chùa miếu mạo đã nêu và rất nhiều nơi khác nữa vẫn sẽ là chốn linh thiêng mãi mãi ở năm 2000. Và sau đó nữa. Đấy là nơi trú ngụ bình yên cho tâm hồn con người, tiếp sức, tiếp lực, tiếp năng lượng sống cho chúng ta bằng lòng tin đã được khắc khảm sâu sắc. Con người của thế kỷ nào đi chăng nữa vẫn là con người. Chúng ta cần tựa vào một chỗ dựa tâm linh vững chắc để vịn lòng mình vào đó, điều chỉnh cuộc sống cho thanh thỏa. Đình, chùa đền, miếu cũng thường là những nơi hội tụ hồn nước, dân gian sùng kính, được nhà nước ta công nhận là những di tích lịch sử văn hóa cần được giữ gìn và tôn tạo. Chắc chắn nó sẽ vẫn linh thiêng khi chúng ta bước vào thiên niên kỷ mới. Và sau đó nữa vẫn là những địa chỉ hấp dẫn khách du lịch.
Trần Thúy Anh -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (9+10+11+12)2000.

Một số Đình – Chùa – Đền – Miếu vừa là chốn linh thiêng vừa là…. – Phần 1

Cố học giả Trung Hoa Lâm Ngữ Đường, nguyên chủ tịch Unesco có làn viết: “Con người ta trong khi những sinh linh duy lý lại vẫn tin vào nhiều điều phi lý. Ví như hàng trăm triệu Phật tử trên thế giới đều tin rằng Đức Thích Cà Mâu Ni khi vừa lọt lòng mẹ đã có 9 rồng phun nước tắm và trong không gian vang vọng những khúc nhạc mừng vui của các nghệ sĩ thiên thần. Đức Thích Ca sơ sinh bước đi 7 bước trên 7 bông sen, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất và nói rằng: “Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn”. Đó là một Phật thoại. Và ở bất cứ ngôi chùa nào từ miền Bắc đến miền Trung Việt Nam, trên tòa Thượng điện, đều có tượng Cửu Long, tượng Đức Thích Ca sơ sinh. Ở một tôn giáo khác phật giáo thì hàng trăm triệu tín đồ Công giáo toàn thế giới đều tin rằng Đức mẹ Eve maria sinh ra Đức chúa Jesus Christ trong hang Bethlem, trên máng cỏ, nhưng vẫn là Đức Mẹ Đồng Trinh. Phần lớn nhà thờ Việt Nam là nhà thờ Đức Bà, nổi tiếng nhất kinh đo Paris của nước Pháp cũng là nhà thờ Notre Dame nhà thờ Đức Bà. Đây cũng là địa điểm mà đại văn hào Victor Hugo lấy làm bối cảnh cho áng văn để đời của ông “Thằng gù ở nhà thờ Đức Bà”. Ở nước ta, toàn dân sùng kính Đức Thánh gióng, Phù Đổng Thiên Vương, lên 3 tuổi, nghe tin nước có giặc ở thời Hùng Vương thứ 6 đã lớn lên như thổi thành người khổng lồ sau khi đã ăn:
Bảy nong cơm, ba nong cà
Uống một hớp nước cạn đà khúc sông
Rồi tay cầm roi sắt, cưỡi ngựa sắt xông ra chiến trường Vũ Ninh nay thuộc Bắc Ninh và sau khi phá tan giặc đã phi ngựa lên núi Sóc Sơn nay là Hà Nội có huyện Sóc Sơn cởi áo bào rồi bay vút lên trời cao. Đền Sóc vẫn còn đó, lễ hội vào ngày 6 tháng giêng vẫn đông nghịt người tham dự. Đền Phù Đổng vẫn còn đó nay thuộc Gia Lâm – Hà Nội vẫn nguy nga tráng lệ với lời truyền tụng của dân gian.
Ai ơi mồng chín tháng tư
Không đi hội gióng cũng hư mất đời
Sau này danh sĩ Cao Bá Quát đã để lại đôi câu về huyền thoại gióng.
Phá tặc đảm hiểm tam tuế vãn
Đằng không do hận cửu thiên đê
Tạm dịch:
Phá giặc còn hiềm ba tuổi muộn
Lên may tầng chín hận chưa cao
Người dân Việt Nam còn hướng tình cảm quý mến và biết ơn của mình tới Đức Thánh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, người chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông năm 1285 – 1288. Sau khi ông mất vào ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý, ông đã hiển thánh với đền kiếp bạc ở giữa hai bên núi Nam Tào, Bắc Đẩu chầu về. Ai cũng biết Nam Tàu, Bắc Đẩu là hai vị thần quyết định việc sống chết của con người người cầm sổ sinh, người cầm sổ tử.
Trần Thúy Anh -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (9+10+11+12)2000.

Lời giải nào để… – Phần 2

Đã có lời giải?
Để giảm thiểu những ách tắc, tạo môi trường thông thoáng cho hoạt động cấp giấy chứng nhận ngày 18 tháng 8 năm 1999 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội Hoàng Văn Nghiên đã ký quyết định 69/1999/QĐ – UB thay thế cho văn bản số 3564/QĐ – UB ngày 16 tháng 9 năm 1997. Theo nội dung của quy định này thì người đang sử dụng nhà ở, đất ở Thủ đô chỉ cần có 1 trong 8 loại giấy tờ liên quan đến nhà đất được coi là hợp lệ theo quy định của pháp luật sẽ được cấp ngay giấy chứng nhận theo đúng hiện trạng, không phụ thuộc vào quy định xây dựng, định mức sử đụng đất do Thành phố quy định. Sự cởi mở của chính sách này cùng với chỉ thị 18/1999/CT – TTg và công văn số 830/CP – NN đã đem lại những hiệu quả đáng khích lệ trong việc cấp giấy chứng nhận. Chỉ tính từ ngày ngày 1 tháng 10 đến ngày 15 tháng 11 năm 1999, số hộ được cấp giấy chứng nhận đã là 1.429 hộ so với 5.135 hộ trong suốt khoảng thời gian dài trước đó. Còn trong 3 tháng cuối năm 1999 tốc độ cấp sổ đỏ đạt gấp 1,5 lần của 9 tháng đầu năm. Và chỉ trong 5 tháng đầu của năm 2000 trên địa bàn toàn thành phố đã có 4.545 giấy chứng nhận được cấp. Dẫu vậy, con số này chưa thấm tháp vào đâu so với mục tiêu mà Thành phố đề ra là sẽ cấp 88 nghìn giấy chứng nhận trong năm 2000. Nếu như trước kia người dân kêu ca về các khoản đóng góp tương đối nặng nề thì đến nay, nếu chủ hộ có đầy đủ các giấy tờ theo quy định của pháp luật thì sẽ được cấp ngay sổ đỏ và chỉ phải đóng 20 nghìn đồng lệ phí cấp giấy. Nhưng tại sao tiến độ cấp giấy chứng nhận vẫn chưa diễn ra nhanh? Theo một quan chức của Sở địa chính nhà đất Hà Nội cho biết: Hầu hết tâm lý của người dân ở trên đất bất hợp pháp thì muốn tìm mọi cách để được cấp giấy chứng nhận, còn những hộ ở trên đất hợp pháp thì việc có giấy chứng nhận hay không họ cũng không cần quan tâm. Nguyên nhân của sự chưa thiết tha ấy, như ông V ở phường Cống Vị, Quận Ba Đình, bộc bạch Sổ đỏ chẳng qua chỉ là sự chuyển đổi từ hình thức giấy tờ này sang một loại giấy tờ khác gọn hơn mà thôi. Nhưng để có cái giấy gọn hơn ấy thì cũng mất nhiều thời gian lắm…”. Việc cấp sổ đỏ ngoài việc lập lại trật tự nhà ở, đất ở đô thị còn tạo điều kiện để vay vốn ngân hàng theo quyết định 67/1999/QĐ – TTg, do đó liên quan trực tiếp tới vấn đề xóa đói giảm nghèo, kích cầu khu vực nông thôn. Với tất cả tâm quan trọng của việc cấp giấy chứng nhận nêu trên, rất mong rằng, khi chính sách đã thông, các cơ quan chức năng cho trách nhiệm cần thi hành khẩn trương, đồng bộ, tránh tình trạng trên thông, dưới tắc. Còn đối với người dân, cần phải nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của Nhà nước. Có như vậy, lời giải cho bài toán hoàn tất việc cấp sổ đỏ ở Hà Nội vào năm 2001 mới không còn bỏ ngỏ.
Bích Loan -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (35(139))2000.

Lời giải nào để… – Phần 1

Theo kế hoạch của Chính phủ, đến năm 2001 Hà Nội phải cấp xong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đô thị nhằm lập lại trật tự trong quản lý, quy hoạch xây dựng đô thị. Tuy nhiên tiến độ cấp giấy chứng nhận 6 năm qua vẫn rất ì ạch đạt khoảng 6,02% bởi gặp phải hàng loạt những mắc mớ khi thực hiện. Để tháo gỡ vấn đề này, Chính phủ đã có công văn số 776/CP – NN ngày 18 tháng 8 năm 1999 chỉ đạo theo hướng thông thoáng hơn. Do đó việc cấp sổ đỏ đã có những chuyển biến tích cực. Nhưng để đi tới đích thì phía trước vẫn còn nhiều việc phải làm
Một chủ trương nhiều bài toán
Chủ trương cấp giấy chứng nhận được bạn hành từ năm 1994 theo Nghị định 60 CP của Chính phủ. Qua 6 năm thực hiện trên địa bàn Hà Nội, trong số có 195.743 hộ sở hữu tư nhân nằm trong diện phải kê khai đã có 183 nghìn hộ hoàn thành hồ sơ đăng ký kê khai đạt 98,5% còn lại là nhà vắng chủ hoặc đang tranh chấp. Nhưng số hộ đã được ký duyệt mới chỉ đạt mức rất thấp tính đến hết tháng 5 năm 2000 mới chỉ có 11.7999 hộ ở Hà Nội được cấp giấy chứng nhận đạt 6,02% tổng số. Sự chậm trễ này được lý giải bởi nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, các nghĩa vụ tài chính để được cấp giấy chứng nhận còn những bất hợp lý. Bảng giá đất làm căn cứ đánh thuế được lấy vào thời điểm sốt đất năm 1995 nên không còn phù hợp với thị trường. Việc nộp 2% lệ phí trước bạ đối với đất hợp pháp kê khai đăng ký để cấp giấy chứng nhận lần đầu cũng là nghĩa vụ tương đối nặng nề có những hộ phải nộp từ 250 nghìn đến 98 triệu đồng tiều thuế chuyển quyền sử dụng, 50 nghìn đến 81 triệu đồng lệ phí trước bạ, 160 nghìn đến 600 triệu đồng tiền sử dụng đất, nên người dân chưa nhiệt tình với chủ trương này. Trong số 11.799 giấy chứng nhận đã được đăng ký duyệt xong vẫn còn nhiều hộ chưa đến nhận. Lý do chính chỉ vì nhiều hộ trong số đó không có tiền đóng lệ phí trước bạ (Trước thực tế này, Thủ tướng chính phủ đã ra chỉ thị 18/1999/CT – TTg về việc cho ghi nợ thuế chuyển quyền sử dụng đất và tiền sử dụng đất đối với những trường hợp xét đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận trước ngày 1 tháng 7 năm 1999 và công văn 830/CP – NN về việc cho chậm nộp lệ phí trước bạ sẽ là một hướng mở. Khó khăn lớn nữa là việc xác nhận nguồn gốc sử dụng đất. Ở Hà Nội tình trạng lấn chiếm, mua đi, bán lại, chuyển đổi hình thức sử dụng đất diễn ra tràn lan, cùng với việc buông lỏng quản lý nhà ở, đất ở kéo dài đã khiến việc xác định nguồn gốc nhà ở đất ở trở nên rất phức tạp. Trong khi đó, điều kiện xét duyệt lại quá cầu toàn, đòi hỏi rất nhiều loại giấy tờ, thủ tục nộp tiền rườm ra, phức tạp qua nhiều cửa, gây ra không ít trở ngại cho người dân. Thêm vào đó là sự cồng kềnh của tổ chức bộ máy thực hiện, phương pháp xét duyệt, sự thiếu hụt về lực lượng, yếu kém về năng lực của đội ngũ cán bộ địa chính cơ sở… Tất cả những điều này đã làm giảm tính khả thi, cản trở tiến độ cấp giấy chứng nhận của Ủy ban nhân dân Thành phố.
Bích Loan -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (35(139))2000.

Bưu điện Đăk Lăk đơn vị anh hùng, người bạn đường của ngành du lịch

Bưu điện Đăk Lăk trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
Đăk Lăk một vùng cao nguyên bao la, được mệnh danh là nóc nhà của Tổ quốc. Xét về vị trí chiến lược, Đăk Lăk chiếm vị thế trọng yếu trong việc kiểm soát cả khu vực Tây Nguyên rộng lớn và nhiều tiềm năng. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, lực lượng giao bưu thông tin liên lạc Đăk Lăk đã mở 230 con đường hành lang xung yếu trong và ngoài tỉnh, trong đó có các tuyến hành lang chiến lược nối Đăk Lăk với Nam Bộ, Đông Campuchia và Hạ Lào, chuyển hơn 4 vạn công văn, tài liệu của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến các địa phương và ngược lại, trong đó có hàng nghìn mật lệnh và thư hỏa tốc chiến đấu đòi hỏi đảm bảo thời gian, không bị lộ không thất lạc, thu và phát hàng vạn bức điện mật chính xác, an toàn tuyệt đối, tổ chức vận chuyển 2,5 vạn tấn vũ khí, lương thực, thuốc men, tiền và vàng của Nhà nước phục vụ kháng chiến đón và đưa hơn 400 lượt đoàn dân công ra tiền phương phục vụ chiến dịch tham gia hơn 36 trận đánh, phá hàng chục ấp chiến lược, tiêu diệt 126 tên địch, tháo gỡ và vô hiệu hóa 160 quả mìn Cờ lây mo của địch cài trên các tuyến hành lang giao lưu. Trong hai cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc, ngành giao bưu Đăk Lăk cũng đã chịu những tổn thất to lớn, 295 cán bộ chiến sĩ đã mãi mãi nằm lại với đât rừng Tây nguyên, 28 cán bộ chiến sĩ là thương binh phải gánh chịu thương tật suốt đời. Với những chiến công của mình, tháng 12 năm 1999, Bưu Điện Đăk Lăk mà tiền thân là Ban giao bưu thông tin liên lạc Đăk Lăk đã vinh hạnh đón nhận phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng: Đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang.
Bưu điện Đăk Lăk trong thời bình
Sau ngày giải phóng Buôn Ma Thuột ngày 10 tháng 3 năm 1975, toàn tỉnh Đăk Lăk chỉ có 2 cơ sở Bưu điện chỉ có 2 cơ sở Bưu điện ở Buôn Ma Thuột và thị trấn Gia Nguyễn còn lại là vùng trắng. Cơ sở kỹ thuật do chế độ cũ để lại chỉ có một tổng đài với dung lượng 200 số và hai máy vô tuyến từ 50 đến 400 W, với vài đoạn cáp trong nội thị đã hư hỏng năng. Thế nhưng bằng sự nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi trong hơn 20 năm qua, ngành Bưu Điện Đăk Lăk đã không ngừng vươn lên. Từ chỗ doanh thu là 95 nghìn đồng năm 1976 lên 85 tỷ đồng năm 1998 với tốc độ tăng bình quân là 4 lần mỗi năm. Dung lượng tổng đài từ chỗ 200 số thì nay có 44.748 số, 1077,5 km cáp các loại, trong đó có 4 tuyến cáp quang, 2.250 kênh thông tin liên lạc kỹ thuật số trong đó có 360 kênh đi liên tỉnh và quốc tế. Từ chỗ toàn tỉnh chỉ có 90 máy điện thoại từ thách đến nay đã có 30.200 điện thoại kỹ thuật số, nâng mật độ bình quân lên 2 máy trên 100 người dân. Hiện có 176 xã phường thị trấn có máy điện thoại trong đó có 9 trên 9 xã biên giới có máy điện thoại. Từ chỗ toàn tỉnh chỉ có 2 bưu cục nay đã có tới 51 bưu cục. Bưu điện đã hoàn thiện các tuyến đường thư cấp I, cấp II bằng phương tiện vận chuyển chuyên dùng. Đăk Lăk từ chỗ đói thông tin đến nay đã có 185 xã phường có báo đọc trong ngày. Cùng với sự phát triển hệ thống giao thông liên tỉnh, liên huyện, Bưu điện Đăk Lăk đã đóng một vai trò quan trọng và là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển du lịch ở Tây Nguyên. Nhờ cố gắng của Bưu Điện Đăk Lăk, du khách đến vùng này rất yên tâm về thông tin liên lạc. Ông Mac Alixto một nhà dân tộc học thuộc trường Đại học Harvard của Mỹ cho biết ông vừa fax từ Bưu điện Đăk Lăk về trung tâm khoa học nơi ông cộng tác một bản nghiên cứu về triết lý nhân văn trong những bức tượng nhà mồ của người Bana ở Tây Nguyên kịp tham gia một cuộc Simine được tổ chức tại trung tâm nọ. Một cô bạn du lịch người Ý, khách của Mac, nói rằng cô không ngờ ở xứ này tại phòng ngủ của khách sạn, hàng ngày cô vẫn được nói chuyện với người mẹ yêu quý ở tận thành phố Vonido bằng điện thoại. Rõ ràng, Bưu điện Đăk Lăk là người bạn đường không thể thiếu của ngành Du lịch trong sự hội nhập với cộng đồng quốc tế hiện nay.
Trần Chấn Uy – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (3(107))2000.