Hải Vân quan – Phần 1

-Điểm du lịch hấp dẫn nhất tour Đà Nẵng ra Huế
-Của chung hai tỉnh – của chùa không ai xót
-Nên chăng xây dựng nơi đây thành một đại quảng trường, một quần thể du lịch hoành tráng nhất nước
Là điểm gối đầu của hai tỉnh Thừa Thiên – Huế và Đà Nẵng, trên chặng đường đèo dài chừng 20 cây số với di tích Hải Vân quan nổi tiếng nằm ngay đỉnh đèo từ lâu đã đi vào thơ ca, nhạc họa, được khách trong nước và ngoài nước biết đến như là một điểm tham quan du lịch hấp dẫn và thực tế hiện nay dù trời mù sương hay nắng cháy, tại Hải Vân quan hằng ngày có hàng trăm người với đủ loại xe ô tô, xe máy…dừng chân ngắm cảnh non nước, mây trời. Và khi rời khỏi đỉnh đèo đầy sương khói để xuôi về hai thành phố lớn hai bên các du khách đều gánh thêm nỗi buồn về một địa điểm du lịch chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Tôi mang nỗi bức xúc đến tìm gặp ông Võ Phi Hùng – Giám đốc Sở Du lịch Thừa Thiên – Huế và nhận được câu trả lời cũng đầy nuối tiếc của ông: Ngành cũng đã xây dựng dự án phát triển khu du lịch Hải Vân quan nhất là khi đường hầm Tuynen xuyên Hải Vân quan hoàn thành nhưng khi tham khảo ý kiến của cơ quan quân sự thì họ cho rằng “đụng đến Quốc phòng” (?) thế là dự án phải bỏ dở ! Nghe vậy, chứ tôi thật tình không “thông” được vì không thể do thế mà khu du lịch này bị bỏ phí? Nói chuyện với tôi bà chủ một nhà hàng đang dọn cửa hàng ăn uống giải khát khá sang trọng trên đỉnh đèo Hải Vân cho biết, bà là người sống ở Nam Ô (thành phố Đà Nẵng) lên đây mua bán “từ xưa đến giờ”. Bà bần thần kể lại thời vàng son: Trước đây đèo Hải Vân đường rất hẹp, xe chỉ chạy được một chiều, lên xuống đều phải chờ lệnh và đỉnh đèo là điểm dừng xe của cả hai bên nên các cửa hàng ăn dù mọc như nấm nhưng vẫn bán đắt như tôm tươi, cả khu vực đỉnh đèo rộng lớn giống như “cái chợ” họp từ sáng sớm đến tối mịt, sau ngày giải phóng phần thì đường mở rộng thêm chạy được hai chiều, phần ít khách, phần thì nói an ninh trật tự….nên bao nhiêu quán xá đều phải dẹp bỏ. Mấy năm gần đây khách du lịch đông đúc nên một loạt quán mở lại!
Thấy bà vui tính, xởi lởi tôi hỏi tiếp: -Quán bà thường đón khách gì? -Ta có, Tây có, cứ xi lô xi la nhặng xị lên nhưng đông nhất là khách Tây rồi đến “lũ choai choai” cứ từng đôi từng cặp từ Đà Nẵng, Lăng Cô phóng xe máy lên chơi buổi sáng rồi chiều về.
-Thế quán bà mỗi ngày bán được chừng bao nhiêu? Tôi hỏi tiếp. Bà nhìn tôi có vẻ hơi nghi ngại, rồi cũng nói.
-Mưa gió thì vài trăm nghìn, thời tiết như ra giêng đến nay cũng được vài triệu, có ngày gặp khách “sộp”, gặp “mối” thì nhiều hơn nữa nhưng tôi bán đủ thứ chứ có phải ăn uống nhậu nhẹt không đâu anh ơi!
Vâng, cửa hàng bà giống như một siêu thị thu nhỏ vì ngoài ăn uống giải khát còn có cả hàng tạp hóa, từ bánh kẹo đến cây kim, sợi chỉ đều có mặt rồi các mặt hàng lưu niệm của Huế, Đà Nẵng…đều không thiếu. Nghe bà giới thiệu tôi cố lân la đi khắp cái thị trường thương mại trên đỉnh đèo cao vời vợi so với mặt biển xanh đang gầm gào bên dưới. Cảm giác đầu tiên của tôi là: thật hỗn độn, cả người mua kẻ bán như đang chơi trò rượt đuổi ! -Người mua một, người bán mười, khách vừa xuống xe chưa kịp “lai tỉnh” sau hơn tiếng đồng hồ vượt đèo lên đây đã bị cả đoàn trẻ em vây quanh, đứa chào mời những khay hàng đến tận mũi. Khách từ chối nhóm này thì gặp ngay nhóm khác và cứ thế: một ông khách nước ngoài đi trước thì đằng sau là cả đoàn rồng rắn và cuối cùng muốn được êm thấm mà chụp ảnh, ngắm cảnh, chuyện trò….lắm du khách đành “liều” mua cái gì đó cho yên chuyện hoặc kéo nhau vào quán ăn nào đó ngồi nghỉ sẽ được các vị chủ này “bảo trợ” khỏi bị đeo bám.
Trần Vĩ Dạ – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Ông Lại Hồng Khánh giám đốc Sở Du lịch Hà Tây

Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch để dần xóa tính thời vụ trong kinh doanh
Phóng viên: Hà Tây là vùng đất cửa ngõ Tây Nam thủ đô Hà Nội, cũng là tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú. Xin ông cho biết vài nét về hoạt động du lịch ở Hà Tây trong những năm qua?
Ông Lại Hồng Khánh: Hà Tây vốn tiềm ẩn trong mình nền văn hóa, tài nguyên thiên nhiên khá đa dạng, cũng là vùng đất tụ khí anh hoa “Địa linh nhân kiệt” hết sức đặc trưng của dân tộc. Xác định rõ vị trí quan trọng về du lịch, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Ban chỉ đạo phát triển du lịch do bà Nguyễn Thị Mùi, Phó chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh phụ trách. Nhờ được quan tâm như vậy, nên hoạt động du lịch ở Hà Tây ngày càng phát triển. Năm 2000 Hà Tây đón 1.250 nghìn lượt khách, trong đó có 554 nghìn khách quốc tế, tăng gấp 2 lần so với năm 1995. Nộp ngân sách từ 1,4 tỷ lên 8,6 tỷ. So với năm 1995 lượng khách hàng năm tăng bình quân là 14,6%, tổng doanh thu tăng 20%. Thực hiện Chương trình hành động quốc gia về Du lịch và các sự kiện du lịch 2000 của Tổng Cục Du lịch, ngành Du lịch Hà Tây đã có chương trình hoạt động cụ thể với 6 nội dung, quảng bá tuyên truyền về du lịch Hà Tây, phát triển văn hóa gắn với các lễ hội dân tộc, phát triển nâng cấp các điểm du lịch, tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích hoạt động du lịch phát triển, hoàn thiện tổ chức nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về du lịch.
Phóng viên: Xin ông cho biết hướng phấn đấu của Du lịch Hà Tây trong năm 2001 là những vấn đề gì?
Ông Lại Hồng Khánh: Năm 2001 Hà Tây phấn đấu đón 1,4 triệu lượt khách trong đó có 8 vạn lượt khách quốc tế. Dự báo đến năm 2005 Hà Tây sẽ đón 3 triệu lượt khách bao gồm khách quốc tế là 10 vạn người, thu nhập xã hội từ du lịch tăng gấp 1,4 lần. Để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu trên, tỉnh sẽ tập trung tài lực, nhân lực giải quyết bằng được một số vấn đề chủ yếu sau: Đổi mới tư duy đầu tư cho du lịch, coi đây là đầu tư cho một ngành công nghiệp lớn có lợi nhuận cao, hơn thế nữa còn làm giàu thêm đời sống tinh thần. Do chưa có vốn lớn, thị trường chưa hấp dẫn nên tập trung đầu tư có trọng điểm, có hiệu quả ngay, lấy ngắn nuôi dài. Xây dựng ngay quy hoạch tổng thể và chi tiết các trọng điểm du lịch như Sơn Tây, Ba Vì và khu vực Hương Sơn… Có quy chế quản lý xây dựng thích hợp, phân cấp quyền hạn, trách nhiệm rõ ràng giữa các ngành, thị xã và huyện. Tỉnh sẽ mở rộng giao thông đến các điểm du lịch, hoàn thiện cơ sở hạ tầng tại các khu du lịch tập trung. Đa dạng và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tiến tới xóa tính thời vụ trong kinh doanh, đó là mục tiêu hàng đầu của du lịch Hà Tây. Chú trọng bảo vệ môi trường, con người và tổ chức vẫn là yếu tố quyết định. Là tỉnh có lực lượng trẻ, trình độ văn hóa cao song nhân viên, hướng dẫn viên lành nghề, người quản lý giỏi có kinh nghiệm vẫn còn thiếu. Vì vậy, mặc dù đã phối hợp với Trường Du lịch Việt Nam, Trường Cao đẳng Kỹ thuật Hà Tây đào tạo được 3 khóa Trung cấp du lịch với 200 học viên, nhưng tình vẫn tiếp tục mở lớp đào tạo ngắn ngày, cập nhật những kiến thức mới về hoạt động du lịch cho các đối tượng hoạt động trong ngành. Sắp xếp là các doanh nghiệp để có doanh nghiệp mạnh, xứng đáng với vai trò chủ đạo trong kinh tế thị trường, đủ sức vươn ra thị trường thế giới cũng đang là vấn đề bức xúc. Hà Tây sẽ xử lý theo hướng liên kết các doanh nghiệp tư nhân vốn ít, đầu tư phân tán, tạo ra hiệu quả kinh tế – xã hội cao hơn. Sự nghiệp du lịch Hà Tây còn nhiều khó khăn thử thách, song với xu thế hiện nay, với thành tựu đã đạt được cùng với kinh nghiệm đã có và nhất là sự quyết tâm hành động, ngành du lịch Hà Tây chắc sẽ đạt được những kết quả tốt hơn góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.
Phóng viên xin cảm ơn ông.
Đỗ Anh – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Về quản lý phần vốn của Nhà nước ở các doanh nghiệp

Gần đây, nhiều bạn đọc trong ngành Du lịch bày tỏ ý muốn tìm hiểu về những vấn đề liên quan đến chế độ quản lý phần vốn của Nhà nước ở các doanh nghiệp, trong đó nhiều người hỏi về người quản lý phần vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa….Các vấn đề bạn đọc quan tâm hầu hết đã được quy định trong các văn bản pháp quy của Nhà nước đã ban hành. Để giúp bạn đọc tiện tìm hiểu, chúng tôi hệ thống lại những điểm liên quan mà bạn đọc quan tâm dưới dạng hỏi và đáp. Mời bạn đọc tham khảo
Hỏi: Quyền và nghĩa vụ của người trực tiếp quản lý phần vốn nhà nước ở các doanh nghiệp ?
Đáp: Để mở rộng quan hệ hợp tác sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nước cũng như ngoài nước; theo cơ chế quản lý hiện hành, doanh nghiệp nhà nước được góp vốn với các doanh nghiệp khác nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh. Điều quan trọng là phải quản lý chặt chẽ, bảo đảm tránh thất thoát và sử dụng có hiệu quả vốn của Nhà nước. Theo Luật doanh nghiệp nhà nước, hội đồng quản trị hoặc giám đốc (đối với doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng quản trị) nhận vốn của nhà nước để góp vào các doanh nghiệp khác có quyền và nghĩa vụ: Xây dựng phương án góp vốn trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền; cử, bãi miễn, khen thưởng, kỷ luật người trực tiếp quản lý phần vốn góp đó; giám sát, kiểm tra việc sử dụng vốn góp, thu lợi nhuận từ vốn góp. Người trực tiếp quản lý phần vốn góp của Nhà nước ở các doanh nghiệp có quyền và nghĩa vụ: Tham gia bộ máy quản lý, điều hành ở doanh nghiệp theo Điều lệ doanh nghiệp; theo dõi và giám sát tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vốn Nhà nước góp; thực hiện chế độ báo cáo và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị hoặc giám đốc (đối với doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng quản trị) về phần vốn góp đó.
Hỏi: Người quản lý phần vốn Nhà nước tại công ty cổ phần (doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa) ?
Đáp: Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, hội đồng quản trị Tổng công ty 91 thỏa thuận với Bộ Tài chính về việc cử người trực tiếp quản lý phần vốn Nhà nước tại Công ty cổ phần (trường hợp chuyển toàn bộ doanh nghiệp độc lập thành Công ty cổ phần). Hội đồng quản trị các doanh nghiệp nhà nước có hội đồng quản trị hoặc giám đốc doanh nghiệp nhà nước độc lập không có hội đồng quản trị cử người trực tiếp quản lý phần vốn Nhà nước tại công ty cổ phần được thành lập từ cổ phần hóa một bộ phận của doanh nghiệp mình (trường hợp chuyển một bộ phần của doanh nghiệp độc lập) thành công ty cổ phần. Người trực tiếp quản lý phần vốn Nhà nước tại công ty cổ phần thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 50 và Điều 54 của Luật doanh nghiệp nhà nước như đã nêu trong các trường hợp trên đây.
Tìm thấy tấm bia Nam Xương đài
Như Báo Tuần Du Lịch (số 23. Từ 7-14/06/1999) đưa tin, trong đợt khảo sát về phía Tây kinh thành, chúng tôi đã tìm thấy tấm bia Tây thành đài (pháo đài Tây thành). Hiện nay chúng tôi tiếp tục khảo sát về phía Nam kinh thành Huế, tìm thấy thêm một tấm bia cổ, chất liệu bằng đá thanh, gắn chìm trong tường thành. Bia cao 0,61m, rộng 0,44m, mặt bia ghi ba chữ Hán “Nam Xương đài” (pháo đài Nam Xương). Qua tra cứu sử liệu được biết pháo đài Nam Xương được xây dựng dưới thời vua Gia Long (1802 – 1819).
Hồ Vĩnh – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Làm gì để ngăn chặn tình trạng tùy tiện giảm giá phòng khách sạn?

LTS: Như tin đã đưa trên Báo Tuần Du Lịch số 29 từ ngày 19-26/7/1999, vừa qua Tổng cục Du lịch đã tổ chức Hội thảo: “Giá phòng khách sạn – Thực trạng và giải pháp”. Các đại biểu đã phân tích nguyên nhân, những hậu quả của tình trạng tùy tiện giảm giá phòng khách sạn diễn ra từ vài năm nay, đồng thời bàn những biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng đó. Báo Tuần Du Lịch xin trích đăng những quan điểm, kiến nghị của một số doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu, quản lý….đã đưa ra tại Hội thảo này.
– Ông Nguyễn Hoàng Thành, Sở Du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Không nên áp đặt giá cho các khách sạn.
“Đối với việc áp dụng biện pháp quản lý giá trong khách sạn theo quan điểm của chúng tôi, trong cơ chế thị trường nó tự điều tiết, chúng ta không nên áp đặt giá cả cho các khách sạn, đến một thời điểm nhất định giá cả sẽ ổn định hơn so với tình hình hiện nay.
Cần thiết nên thành lập các hiệp hội khách sạn trên địa bàn để góp phần ổn định tình hình giá cả. Hiệp hội này do các giám đốc các khách sạn là thành viên, và thay phiên làm chủ tịch, Hiệp hội hoạt động theo quy chế và có sự giám sát lẫn nhau.
Tổng cục Du lịch nên quy định những khách sạn đã được xếp sao mới được đón khách nước ngoài, hoặc những cơ sở lưu trú khác (biệt thự, bungalow, camp-ing…) muốn đón khách nước ngoài phải được sự cho phép của ngành Du lịch”.
– Ông Phan Hữu Thắng, Bộ Kế hoạch và đầu tư: Quy định giá tối thiểu là cần thiết.
“Thực chất trong cơ chế thị trường, giá phòng khách sạn là do chủ đầu tư quyết định, phù hợp với tình hình kinh doanh thực tế của từng thời kỳ. Nếu có chăng việc điều tiết về giá để đảm bảo quyền lợi chung của nhau thì công việc đó thuộc chức năng của một tổ chức như Hiệp hội khách sạn.
Trong khi chưa thành lập được Hiệp hội khách sạn, việc can thiệp của Nhà nước trong quản lý giá đối với hoạt động kinh doanh của khách sạn hiện này là rất cần thiết và bức xúc, mà biện pháp có thể thực hiện được là quy định giá tối thiểu áp dụng cho từng cấp hạng khách sạn…”
-Ông Nguyễn Quang Lân, Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội: Thay vì hạ giá nên tăng dịch vụ miễn phí.
“Việc hạn chế hạ giá cho thuê phòng khách sạn cần được các cơ quản quản lý Nhà nước khuyến cáo các khách sạn: thay vì hạ giá phòng cho thuê thì nên tăng cường các dịch vụ miễn phí kèm theo nguyên giá cho thuê phòng, cộng với các chương trình khuyến mãi đặc biệt phong phú, sẽ hấp dẫn du khách nhiều hơn, tạo ra nhiều việc làm và các yếu tố kích thích phát triển kinh tế du lịch…
Một số biện pháp nhằm hạn chế hiện tượng hạ giá cho thuê phòng: Tất cả các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn phải xây dựng phương án giá cho thuê phòng tối thiểu kèm theo các dịch vụ (trong một thời gian) của khách sạn mình và đăng ký cam kết với cơ quan quản lý Nhà nước sẽ thực hiện theo mức giá sàn đó; khuyến khích hình thành các nhóm khách sạn cùng thứ hạng, cùng quy mô để xây dựng quy chế về mặt bằng giá phải thực hiện, có sự hướng dẫn, kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý du lịch….
P.V – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Nhớ Tây Nguyên

Sao chiều nay giữa lòng phố chật
Ta bỗng thèm trở lại Tây Nguyên
Voi đủng đỉnh gùi hàng lên đỉnh dốc
Già làng ngồi cùng tẩu thuốc lặng im.
Và buôn vắng, người đi đâu hết cả
Cây ngoài vườn hớn hả đón chào ta
Chùm mít chín đưa mùi thơm mời mọc
Quả bầu già đen nhánh tự ngày xa.
Rừng thông sáng như cây trồng dịp Tết
Lá đầu cành như nến dưới trời xanh
Đóa hoa dại thập thò bên góc suối
Con chim gì tha thiết gọi anh anh
Cứ im lặng trong hoang sơ cổ tích
Mà gọi mời tươi rói trẻ trung
Ta ngơ ngác dưới một vòm quả lạ
Chưa gặp người, lòng đã rưng rưng.
(Rút từ tập Bài Thơ cuộc đời – 1999)
Lời bình của Hoàng Dạ Vũ
Những câu thơ viết từ phố phường, giữa huyên náo người xe và rất có thể viết vào lúc mất điện, trong cái nóng bức oi nồng. Ấy là cái lúc khiến người ta dễ liên tưởng, so sánh. “Sao chiều nay giữa lòng phố chật ! Ta bỗng thèm trở lại Tây Nguyên”. Nhà thơ “thèm trở lại Tây Nguyên” khiến người đọc cũng không thể dửng dưng khi bắt gặp những hình ảnh mang đậm dấu ấn của xứ Thượng: “Voi đủng đỉnh gùi hàng lên đỉnh dốc / Già làng ngồi cùng tẩu thuốc lặng im”.
Trong rất nhiều cái đáng nhớ của Tây Nguyên, nhà thơ thiên về một chuyến du lịch sinh thái, “thèm trở lại” với buôn vắng, cây vườn chùm mít chín, quả bầu già, rừng thông và đóa hoa dại bên góc suối. Bằng sự quan sát tinh tế của người nghệ sỹ và bút pháp chấm phá tài tình của một họa sỹ, nhà thơ đã phác thảo một bức tranh thiên nhiên Tây Nguyên với những sắc màu, mùi vị, âm thanh sống động và quyến rũ, có sức mời gọi, níu giữ:
“Cứ im lặng trong hoang sơ cổ tích
Mà gọi mời tươi rói trẻ trung”
Thiên nhiên, cây cỏ, chim thú của Tây Nguyên là thế, hoang sơ, cổ tích mà tươi rói, hừng hực sức sống. Ấy là chưa nói đến con người. Không phải ngẫu nhiên, mở đầu bài thơ, nữ thi sỹ đã viết: “Và buôn vắng, người đi đâu hết cả”. Để rồi ở câu kết, tác giả lại lặp lại: “Ta ngơ ngác dưới một vòm quả lạ / Chưa g8ạp người lòng đã rưng rưng”. Thì ra nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn muốn nhắn gửi với du khách: Bạn mới biết về một nửa Tây Nguyên. Còn một nửa Tây Nguyên nữa là con người, những người dân Ê Đê, Mơ Nông, Gia Rai, Xê Đăng; những Đam San và Xing Nhã, những Mơ Trang Lơng và anh hùng Núp… Những con người Tây Nguyên ấy cùng với thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ, thơ mộng Tây Nguyên… tạo nên một xứ sở kỳ diệu, một vùng du lịch kỳ thú luôn ám ảnh, hò hẹn với mọi du khách.
Phan Thị Thanh Nhàn-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Ngựa cũng kiếm tiền

Đến với công viên quốc gia Pháp bạn sẽ phải ngạc nhiên về bảy chú ngựa lùn. Khi bạn đến khu vực ở của chúng, bảy chú ngựa sẽ đồng loạt xin tiền, sau đó tự làm xiếc cho bạn xem. Nếu muốn cưỡi lên lưng ngựa bạn phải thuê những bộ quần áo sọc đỏ dành riêng cho du khách cưỡi ngựa. Số tiền mà chúng kiếm được sẽ không chi tiêu gì ngoài việc chăm sóc và nuôi dưỡng chính bảy chú ngựa này.
Quốc khánh Trung Quốc không phải là dịp để các cán bộ tiêu xài phung phí
Nhân kỷ niệm 50 năm ngày quốc khánh Trung Quốc (1/10/1999), chính quyền nước này đã cảnh báo rằng cáo quan chức không được nhân dịp này để tiêu xài phung phí. Sẽ không có những bữa tiệc lớn, không được phép tặng những món quà lưu niệm có giá trị, không được coi ngày lễ này như một cái cớ để sửa sang lại văn phòng… Các cán bộ cũng không được coi đây là dịp để có thể tăng lệ phí hay làm trì hoã, đẩy nhanh tiến trình thi công hay sửa đổi những dự án xây dựng đã được phê chuẩn.
Theo chỉ thị của chính phủ thì những hành động có tính chất phô trương có thể càng làm tăng thêm nỗi bất bình trong dân chúng đối với nạn thất nghiệp trầm trọng, thu nhập giảm sút và đặc biệt là nạn tham nhũng đang hoành hành trong tầng lớp cán bộ nhà nước.
Vào dịp 1/10 việc ra vào thủ đô Bắc Kinh bằng đường bộ, đường sắt và đường hàng không sẽ được kiểm soát rất chặt chẽ. Theo hãng thông tấn Xinhua thì chính quyền Bắc Kinh còn dự định sẽ buộc 3 triệu công nhân nhập cư phải trở về quê vào dịp quốc khánh lần thứ 50 này.
Mặc dù chỉ thị cấm tiêu xài phung phí vào dịp quốc khánh nhưng thủ đô Bắc Kinh lại là một ngoại lệ: Thành phố này sẽ được trồng thêm cây xanh và đèn cao áp, một số đường phố chính sẽ được lát đá… Ngoài ra vào ngày 1/10/1999, tại quảng trường Thiên An Môn sẽ diễn ra một cuộc diễu binh với sự tham gia của khoảng nửa triệu người, bao gồm cả binh lính và các loại vũ khí hiện đại. Chi phí cho các công việc trên chưa được công bố.
Như Ngọc – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Đồ gỗ xuất biên – tài nguyên chảy máu

Nghe danh đã lâu, nhưng bây giờ tôi mới chứng kiến những gì đang diễn ra hàng ngày tại cửa khẩu Tân Thanh – Pò Chài. Đầu năm 1999, Chính phủ cho phép xây dựng khu kinh tế mở Đồng Đăng – Tân Thanh, tuy chưa phải là một cửa khẩu quốc gia lớn nhưng hiện nay Tân Thanh đang là nơi xuất khẩu nhộn nhịp nhất nhì của tỉnh Lạng Sơn.
Hàng hóa Trung Quốc qua cửa khẩu Tân Thanh vào nước ta khối lượng khá lớn, đủ loại từ hoa quả, vải vóc, quần áo may sẵn, xe đạp, đồ điện gia dụng đến hàng điện tử cao cấp…Hàng hóa Việt Nam xuất qua cũng không phải ít, nhưng có một mặt hàng của ta đang tràn ngập Trung tâm thương mại Pò Chài (Trung Quốc) là gỗ và đồ gỗ chạm khảm – thuộc mặt hàng Nhà nước cấm xuất khẩu – lại có mặt ở Trung tâm thương mại Pò Chài nhiều đến vậy ? Những tấm gỗ có kích thước 1,2m x 1,8m x 0,2m thuộc loại tứ thiết nặng hàng tạ phải do phương tiện vận tải mới đưa qua được biên giới. Còn đồ gỗ chạm khảm kiểu giả cổ bày la liệt phần lớn đều có nguồn gốc từ làng Đồng Kỵ (huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Những bộ bàn ghế kiểu Á – u mặt đá khảm trai, chạm trổ long – ly – quy – phượng, tượng Phật to nhỏ đủ loại, rồi hoành phi, câu đối… Thử hỏi đường dây nào đủ mạnh để có thể vượt qua hàng rào pháp luật đưa một khối lượng lớn gỗ quý sản phẩm đồ gỗ chạm khảm qua bên kia biên giới ? Ai được, ai mất ở đây ? Có lẽ cái được của chúng ta quá nhỏ so với cái mất bởi tài nguyên rừng ngày một cạn kiệt, công sức và trí tuệ của người lao động kết tinh trong sản phẩm được bán với giá quá bèo bọt.
Qua khảo sát tìm hiểu, giá một bộ Salon kiểu Á – u từ Đồng Kỵ xuất thô sang Trung Quốc từ 250 – 300 USD. Mức giá này so với thu nhập bình quân của người Việt Nam có thể khá cao, nhưng lại quá thấp so với thế giới. Đồ gỗ chạm khảm cổ được làm thô ở Đồng Kỵ, sau đó qua tay một số lái buôn thuộc các đường dây buôn lậu chuyển qua biên giới, về tập kết ở Trung tâm thương mại Pò Chài. Tại đây Việt Nam bắt đầu lắp ráp, đánh bóng, hoàn thiện sản phẩm trước lúc chuyển vào Bằng Tường đi Bắc Kinh, Thượng Hải, Hồng Kông và nhiều nơi khác. Cũng là mặt hàng gỗ được sản xuất ở Đồng Kỵ nhưng sang Pò Chải chỉ cần gia công thêm tí chút, đưa đến Hồng Kông giá trị được nhân lên 4 – 5 lần. Thế mới biết trong cuộc cạnh tranh trên thương trường ai được – ai mất !
Một câu hỏi đặt ra là tại sao Nhà nước không quản lý được các mặt hàng xuất khẩu của các làng nghề truyền thống như Đồng Kỵ, mà để lái buôn thâu tóm việc xuất khẩu hiện nay ở đây. Về thực chất của tình trạng này là tài nguyên đất nước bị tàn phá. Nếu chúng ta đứng ra tổ chức tốt sẽ mang lại một nguồn thu khá lớn cho ngân sách Nhà nước và người lao động cũng đỡ thiệt thòi. Hiện nay ở khu Trung tâm thương mại Pò Chài còn khá đông thợ Việt Nam, trong đó có những nghệ nhân của một số làng nghề truyền thống được huy động sang làm việc ở đây, dưới sự chỉ đạo của các kỹ thuật viên Trung Quốc. Như vậy hóa ra những bàn tay vàng trong các làng nghề truyền thống của nước ta lại đang tha hương kiếm sống nơi đất khách quê người.
Bình Nam – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Người phụ nữ Việt duy nhất thời xưa được theo chồng xuất ngoại

Nhữ Đình Hiền, người làng Hoạch Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, nay là xã Thái Học, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương, chưa rõ năm sinh năm mất, chỉ biết ông đậu tiến sĩ năm Canh Thân – 1680 dưới thời Lê – Trịnh (Lê Hy Tông – Trịnh Tạc). Nhữ Đình Hiền là ông quan sáng suốt, có tài kinh bang tế thế. Năm Mậu Dần 1698, ông được cử đi sứ Trung Quốc, đặc cách cho phu nhân là Lý Thị Hiệu cùng đi. Luật lệ của ta và Trung Quốc thời ấy không cho phép phụ nữ tham gia sứ đoàn, chắc hẳn nhà vua nhận thấy ở bà có những năng lực đặc biệt; đây cũng là trường hợp duy nhất trong lịch sử ngoại giao của Việt Nam thời phong kiến.
Trong thời gian ở Trung Quốc, ngoài công vụ, phu nhân chỉ quan tâm đến phương pháp chế tạo lượt của xứ người, bà dò đến những nơi có nghề làm lược truyền thống, quan sát, tìm hiểu và hỏi han cặn kẽ về cách làm. Khi về nước, phu nhân cùng chồng đem những kiến thức thu lượm được từ phương Bắc, phổ biến rộng rãi cho bà con dân làng; phu nhân còn trích khoản thu nhập hoa lợi của 12 mẫu ruộng vua ban để đầu tư vốn, lập ra phường thợ Diên Lộc; từ đó, nghề làm lược ở đây bắt đầu phát triển và được coi là nơi sản xuất lượt đầu tiên ở nước ta.
Sau khi Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền và phu nhân mất, dân phường Diên Lộc và làng Hoạch Trạch lập đền thờ, tôn ông bà là thánh sư nghề lược. Văn tế thánh có câu: “Bắc sư dĩ đoan, hưng thành nghệ thủ”, nghĩa là: “Khơi mối từ lần sang sứ Trung Quốc, gây dựng nghề cho dân”.
Không phải ông
Có tiếng một phụ nữ:
-Cứu tôi với ! Cứu tôi với !
Người ta trông thấy một cô gái trẻ ở lưng chừng núi, hai tay bám vào gốc cây, một bàn chân bấu víu vào đá còn chân kia buông thõng. Một ông trong đoàn đi du lịch vội vàng leo lên, chợt nghe tiếng cô ta:
-Không, không phải ông. Tôi gọi cái anh Việt Kiều khoác cái sắc kia cơ !
-!!!
Chẳng hơn gì
Sau khi sếp đi du lịch với cô thư ký ít ngày. Lúc về một người bạn của sếp hỏi:
-Anh thấy cô thư ký mới tuyển ấy thế nào?
-Cũng thế cả. Chả hơn gì vợ mình.
– ?!
Giúp bạn khỏe đẹp khi đeo kính
Để khuôn mặt đẹp hơn thì đeo kính bạn nên biết những nguyên tắc cơ bản. Thứ nhất nên tạo được sự tương phản giữa kính và mặt. Với kính thì gọng là phần cơ bản tạo hình dạng. Nếu bạn có khuôn mặt trái xoan thì gần như kiểu kính nào cũng phù hợp. Nếu có gương mặt tròn thì nên chọn gọng kính hình vuông hoặc hình chữ nhật, nó sẽ giúp bạn có khuôn mặt thanh tao hơn. Còn nữa, bạn nên mua kính có gọng hình bầu dục hoặc hình chữ nhật uốn tròn cho khuôn mặt tam giác.
Ngoài ra, nên quan tâm đến màu tóc, độ sáng của da, sống mũi cao hay dẹt. Người châu Á tóc đen nên phối hợp với gọng làm bằng kim loại ánh bạc.
Bức ảnh 7 con chim ruồi đạt giải thưởng
Nhà nhiếp ảnh người Anh tên là Peter Blackwell vừa nhận được một giải thưởng quốc tế nhiếp ảnh với đề tài “Đời sống hoang dã của loài chim ruồi” tại công viên thiên nhiên Masai Mara ở Kenya. Bức ảnh không những rất đạt về mặt nghệ thuật mà còn chứng tỏ một sự kiên trì rình rập của tác giả, đã nắm bắt cơ hội kịp thời để bấm máy vào một thời điểm tốt nhất. Ảnh được trưng bày tại cuộc triển lãm EXPO, Zurich, Thụy Sĩ được ban tổ chức xếp hạng nhất.
Ngô Hữu Đoàn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

“Bí quyết của nhà hàng là kiên trì, luôn cải tiến cách phục vụ”

Vừa qua, Tuần Du lịch đã có cuộc gặp gỡ và trao đổi cùng với bà Trương Ngọc Sương giám đốc nhà hàng Ngọc Gia Trang – một đơn vị được xem là làm ăn khấm khá nhất Thành phố Mỹ Tho.
Phóng viên: Nhà hàng Ngọc Gia Trang là một trong những đơn vị phục vụ ẩm thực nổi tiếng nhất tỉnh Tiền Giang, không những là điểm hẹn của thực khách địa phương mà kể cả khách quốc tế cũng không thiếu trong sổ tay, chị có thể cho bạn đọc biết đôi nét về nhà hàng Ngọc Gia Trang?
Giám đốc Trương Ngọc Sương: Tuy không phải là đơn vị trực thuộc nhưng bản thân luôn xem đơn vị mình là một thành viên của ngành du lịch Việt Nam, nay được quý báo ngành quan tâm, trước tiên tôi xin bỏ lòng cảm ơn và kính chúc sức khỏe quý anh chị trong ngành.
Nhà hàng Ngọc Gia Trang chúng tôi ra mắt thực khách vào đầu quí 4 năm 1993. Tổng diện tích sử dụng khoảng 4 ha. Tiền thân của khu nhà hàng này là mảnh vườn trồng cây ăn trái được chuyển sang thành lập khu nhà hàng, trên tinh thần cá nhân say mê nghề nghiệp, hơn nữa, theo tôi xét nếu về vị thế và thế đứng mảnh vườn có thể thu được lợi nhuận hàng năm, nhưng để xây dựng nhà hàng kinh doanh ăn uống thì hợp lí và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn. Bởi lẽ, vị trí này nằm giữa khoảng đường chính tiếp giáp với đường Ấp Bắc từ ngã tư ba Trung Lương vào Thành phố Mỹ Tho rất tiện trong giao thông và dễ tạo sự chú ý cho du khách. Từ những thực trạng trên chúng tôi quyết định xây dựng nhà hàng kinh doanh phục vụ ẩm thực. Về cấu trúc thiết kế xây dựng nhà hàng chúng tôi dựa vào cảnh quan mà hình thành. Vật liệu chủ yếu là cây lá. Tóm lại du khách đến nhà hàng Ngọc Gia Trang sẽ cảm nhận ngay chất miệt vườn Nam bộ được thể hiện qua khâu kiến trúc mang dáng vẻ đậm đà màu sắc dân tộc của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Những thành quả đạt được trong quá trình kinh doanh của nhà hàng Ngọc Gia Trang đến nay, thật ra chúng tôi chẳng áp dụng kế sách gì gọi là bí mật. Theo bất cứ một đơn vị kinh doanh nào “vạn sự khởi đầu nan” không sao tránh khỏi những khó khăn. Riêng đơn vị chúng tôi cũng thế. Nhưng có điều thời điểm nhà hàng Ngọc Gia Trang ra mắt thực khách, có cái khó trong giai đoạn ban đầu là nhà hàng thời bấy giờ hoàn toàn là tiếp viên nam, trong khi các điểm ăn uống ở tỉnh toàn tiếp viên nữ vì vậy đối với thực khách ở mức độ nào đó trong phục vụ tạo cho họ sự lạ lẫm và ngỡ ngàng nếu không nói là không hài lòng. Giai đoạn này tất nhiên nói về mặt doanh thu nhà hàng ở con số âm. Tuy nhiên nhờ sự bám trụ kiên trì, luôn theo dõi thông tin cải tiến cách phục vụ, chú trọng cung – cầu, vì đây là khâu then chốt trong ngành ăn uống… Đến đầu năm 1994, được sự trợ giúp của ban, ngành, lãnh đạo địa phương, cùng với công Exotissimo của người Pháp đưa khách đến. Nhà hàng từ đó đi vào ổn định.
Phóng viên: Nhưng đâu chỉ có bấy nhiêu ?
Giám đốc Trương Ngọc Sương: Đúng vậy, thời gian này nhà hàng Ngọc Gia Trang về con số khách nội địa cũng tăng lên khá đông, đặc biệt là hàng năm nhà hàng đảm nhận hơn 300 tiệc cưới. Song điều đáng ghi nhận và vinh dự cho nhà hàng là thông qua các tour lữ hành nhiều công ty như: Công ty du lịch Việt Nam, Công ty du lịch Hòa Bình, Vidotour Tân Văn Lan, Văn Minh… hàng năm đã đưa khách quốc tế đến đây thưởng thức ẩm thực rất đông.
Năm 1995 lượng khách quốc tế 5.400 khách, năm 96 7.500 khách, năm 97: 8.800 khách, năm 98: 10.000 khách và 6 tháng đầu năm 99: 7000 khách bao gồm các nước Trung Quốc – Hồng Kông – Nhật Bản – Pháp – Anh – Mỹ – Hàn Quốc – Ấn Độ – Ma Rốc…
Phóng viên: Về hướng tới của nhà hàng Ngọc Gia Trang? Đặc biệt là chào đón chào năm du lịch thế giới 2000 tổ chức tại Việt Nam chị có chủ trương gì trong chương trình trên?
Giám đốc Trương Ngọc Sương: Đơn vị chúng tôi chỉ ở hàng “em út”, nhưng với chương trình trên chúng tôi cũng được phép góp một phần nhỏ trong bộ mặt du lịch của nước nhà thêm tươi sắc thể hiện qua những món ăn phong phú đặc trưng của Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời chúng tôi cho tiến hành cải cách xây dựng một số dịch vụ phục vụ quý khách quốc tế tham quan Tiền Giang nói chung, được vui chơi giải trí thưởng thức ẩm thực tại nhà hàng Ngọc Gia Trang nói riêng.
Phóng viên: Xin cảm ơn chị.
Nguyễn Ngọc Sơn – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Thành lập ban vì sự tiến bộ của phụ nữ của Tổng cục Du lịch

Đó là nội dung của quyết định số 201/1999/QĐ-TCDL do Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng ký ngày 2-7-1999. Theo đó, Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ (Ban) gồm 5 thành viên do Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Phú Đức làm Trưởng Ban. Ban có chức năng, nhiệm vụ: tham mưu cho Tổng cục trưởng về chủ trương, chính sách đối với phụ nữ trong ngành Du lịch; Chủ trì nghiên cứu, đề xuất kế hoạch, chương trình hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ ngành Du lịch theo chỉ đạo của Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam và hướng dẫn của các bộ, Ngành liên quan, trình Tổng cục trưởng phê duyệt để tổ chức thực hiện, Tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện luật pháp, chính sách đối với phụ nữ và kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2.000.
Ban hoạt động theo Quy chế do Tổng cục trưởng phê duyệt và được phép sử dụng con dấu của Tổng cục Du lịch, được cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện công tác như một tổ chức thuộc Cơ quan Tổng cục.
Chương trình phát triển nguồn nhân lực Mê Công
Thực hiện Dự án “Tăng cường thể chế cho hợp tác khu vực Mê Công”, nhóm công tác phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam cùng với chuyên gia tư vấn đã nghiên cứu xây dựng lên Quy trình hướng dẫn Phát triển nguồn nhân lực và Kế hoạch hành động phát triển nguồn nhân lực 1999-2001 trong khuôn khổ hợp tác Mê Công. Hai bản dự thảo này đã được hoàn chỉnh thông qua thảo luận, lấy ý kiến các Bộ, Ngành trong hội thảo quốc gia do Ủy ban sông Mê Công Việt Nam tổ chức tại Hà Nội từ 21-22/5/1999 và Hội thảo khu vực do Ban thư ký, Ủy Hội Mê Công tổ chức tại Siêm Riệp, Campuchia từ 16-19/6/1999.
Kế hoạch hành động phát triển nguồn nhân lực đã được Ủy Hội thông qua và Cơ quan hợp tác phát triển của Chính phủ Thụy Sĩ đã cam kết tiếp tục tài trợ cho dự án này. Việc thực hiện có thể bắt đầu từ tháng 10/1999 bao gồm:
Tu chỉnh, ban hành và đưa Quy trình hướng dẫn phát triển nguồn nhân lực vào áp dụng.
Nâng cao năng lực cho cán bộ phụ trách về phát triển nguồn nhân lực ở các Bộ, Ngành liên quan, hướng tới xây dựng đội ngũ chuyên gia về phát triển nguồn nhân lực (mỗi nước 5 người).
Thiết lập mạng lưới thông tin trên Internet về phát triển nguồn nhân lực cho khu vực; tạo tiền đề thiết lập mạng lưới hợp tác về phát triển nguồn nhân lực giữa các Bộ, Ngành với Hệ thống giáo dục và đào tạo quốc gia thông qua đào tạo chuyên gia về các chuyên ngành liên quan đến Mê Công.
Xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống cơ sở thông tin, dữ liệu quốc gia về phát triển nguồn nhân lực. Du lịch được xem là một trong những lĩnh vực quan trọng liên quan đến sông Mê Công. Tiến tới thực hiện 4 nội dung kế hoạch trong khuôn khổ hợp tác Mê Công nêu trên sẽ mang lại những lợi ích thiết thực cho ngành Du lịch cả nước trước mắt và lâu dài. Đặc biệt khi Quy trình hướng dẫn phát triển nguồn nhân lực được ban hành và đưa vào áp dụng sẽ căn bản nâng cao hiệu quả của công tác quản lý phát triển nguồn nhân lực cho Ngành du lịch.
Quảng Ngãi: thêm nhiều tour du lịch phục vụ giáo viên – học sinh trong dịp hè
Công ty du lịch Quảng Ngãi vừa có đợt khuyến mãi đặc biệt để phục vụ khách du lịch là học sinh, giáo viên trong kỳ nghỉ hè. Theo đó, Công ty sẽ giảm giá thành mở thêm nhiều tour du lịch nội địa để đưa khách du lịch là học sinh – giáo viên đi tham quan các danh lam thắng cảnh nổi tiếng trong nước như Hội An – Non Nước Huế – Động Phong Nha – Vịnh Hạ Long – Hà Nội – Đà Lạt – Thành phố Hồ Chí Minh v.v… Đội xe của Công ty cũng được đầu tư cải tiến, nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch.
V.T – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999