Bảo đảm an toàn giao thông đường sắt 6 tháng đầu năm 2001 những kết quả đáng ghi nhận

So với cùng kỳ năm trước, số lượng hàng hóa vận chuyển trên đường sắt và khách đi tàu trong 6 tháng đầu năm 2001 tăng lên. Để đáp ứng nhu cầu vận chuyển, ngành đường sắt đã chủ động nắm tình hình để tăng tàu, tăng chuyến, nối thêm toa đồng thời triển khai cuộc vận động thực hiện kỷ cương an toàn giao thông vận tải đường sắt nhằm đảm bảo an toàn chạy tàu và nâng cao chất lượng phục vụ hành khách.
Tiếp tục thực hiện Nghị định 39/CP của Chính phủ, lực lượng Cảnh sát giao thông đường sắt đã phối hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền hướng dẫn luật lệ giao thông và thường xuyên duy trì việc kiểm tra an toàn đường sắt. Tại Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Nam, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên-Huế, thành phố Hồ Chí Minh… đã tổ chức hội thi “Tuyên truyền viên măng non thiếu nhi bảo vệ đường sắt” cùng với việc duy trì và nhân rộng phong trào “Em yêu đường sắt quê em” ở các địa phương có tuyến đường sắt đi qua. Trên các tuyến đường sắt, lực lượng Cảnh sát giao thông và thanh tra giao thông đường sắt đã phối hợp kiểm tra an toàn 134 đầu máy, 1.141 toa xe, 760 đường ngang. Lập biên bản 54 đường ngang không đảm bảo an toàn, kiến nghị giải tỏa 87 đường ngang do dân tự mở, 58 điểm buôn bán, đỗ xe cạnh đường sắt; lập biên bản 182 hộ dân vi phạm lấn chiếm đất hành lang an toàn đường sắt, giải tỏa 713,2 m2, nhà ở 9,6 mét tường rào, chặt hàng ngàn cây xanh che khuất tầm nhìn đường sắt…
Thông qua tuần tra kiểm soát trên các chuyến tàu khách, lực lượng Cảnh sát giao thông đã truy xét, bắt quả tang 30 vụ phạm pháp hình sự với 37 đối tượng, thu 1 súng ngắn, 8 viên đạn, 1 lựu đạn, 100 ống Seluxen, 1 hộp thuốc gây mê, 2.172 USD, 11,2 triệu đồng và nhiều tài sản khác; Kiểm tra phát hiện 164 vụ vận chuyển hàng gian lận trốn thuế của 350 lượt đối tượng, thu giữ trên 30 mặt hàng, giao cơ quan chức năng xử lý, truy thu trên 800 triệu đồng tiền thuế; Phát hiện lập biên bản 187 trường hợp vi phạm NĐ 39/CP, xử phạt gần 26 triệu đồng…
Những kết quả trên đã góp phần giữ ổn định trật tự an toàn giao thông dọc các tuyến đường sắt, ở các ga và trên các đoàn tàu.
Tuy nhiên, thực tế bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường sắt 6 tháng đầu năm cũng cho thấy tai nạn giao thông xảy ra ở các đường ngang không có phòng vệ còn xảy ra nhiều (171 vụ/180 vụ) mà nguyên nhân chủ yếu do người đi bộ, điều khiển phương tiện qua lại đường sắt không chú ý quan sát xe lửa; Tệ ném đất đá lên tàu xảy ra 50 vụ, làm bị thương 6 người, vỡ 44 kính cửa toa xe, so với 6 tháng đầu năm 2000 tăng 31 vụ (50/19); Tình hình hoạt động của bọn tội phạm hình sự, vận chuyển hàng trốn thuế và hàng cấm (chủ yếu là thuốc lá ngoại và hàng Trung Quốc) trên các tuyến Thống Nhất, Hà Nội – Lạng Sơn, Hà Nội – Lào Cai… còn khá phức tạp. Đây là những vấn đề đặt ra cho các cơ quan chức năng và ngành đường sắt cần có biện pháp ngăn chặn trong thời gian tới để bảo đảm tốt trật tự an toàn giao thông đường sắt.
Bạn phải làm gì khi hướng dẫn đoàn khách là cựu chiến binh?
Hướng dẫn đoàn khách là cựu chiến binh (thường là cực chiến binh Mỹ hoặc Pháp) như thế nào cho tốt là nội dung mà “Sổ tay hướng dẫn viên du lịch” xin tư vấn cùng các bạn trong số này.
Nhìn chung, khách cựu chiến binh là đối tượng không đòi hỏi quá cao về các dịch vụ khách sạn và ăn uống. Hầu như tất cả các cựu chiến binh khi trở lại Việt Nam đều đinh ninh rằng khi bước ra khỏi máy bay ở Đà Nẵng, Sài Gòn, họ sẽ gặp lại quang cảnh cũ cách đây mấy chục năm, khi họ tham chiến ở Việt Nam. Nhưng, giờ đây mọi thứ đã thay đổi cả cảnh vật lẫn con người, thêm vào đó là khí hậu nóng bức, nỗi mệt nhọc vất vả sau chuyến bay, tất cả điều đó rất dễ làm cho du khách cựu chiến binh Mỹ có cảm giác thất vọng khi đặt chân trở lại đất nước ta. Bên cạnh đó, họ còn có những mặc cảm về cuộc chiến tranh tội lỗi do phía Mỹ gây ra cho nhân dân Việt Nam. Vì vậy, thời gian đầu khi mới tới Việt Nam, họ có thái độ lạnh lùng, đôi khi lo âu không hiểu người người Việt Nam sẽ đối xử với họ ra sao? Chỉ sau các cuộc tiếp đón chân thành của phía Việt Nam, khách du lịch cựu chiến binh mới có thái độ cởi mở, thân thiện và thông cảm với hoàn cảnh của Việt Nam. Ngoài tìm hiểu lịch sử, du khách rất quan tâm đến văn hóa, phong tục tập quán của người Việt Nam. Họ thường thích được chuyện trò tự nhiên với người dân địa phương nơi đoàn tới và đặc biệt quan tâm tới những đổi thay của người dân Việt Nam sau năm 1975.
Người hướng dẫn viên đoàn khách cựu chiến binh Mỹ phải nắm được tất cả các đặc điểm tâm lý trên để từ đó giúp họ thực hiện được mục đích của chuyến đi là thăm lại một quả đồi, một góc phố, nơi đã từng diễn ra các trận đánh ác liệt, nơi họ bị thương hoặc nơi đã có những kỷ niệm sâu sắc suốt đời không thể quên được. Do thời gian, địa hình nơi khách muốn đến đã thay đổi, vì vậy, để giúp khách tìm, thăm lại nơi cũ, người hướng dẫn có thể yêu cầu lái xe (nếu đi phương tiện ô tô) đi vòng quanh một quả đồi, một góc phố nào đó để tìm đúng được địa điểm cần tìm. Trong lúc này, người hướng dẫn không được tỏ thái độ chán nản mà hãy tỏ ra kiên nhẫn, tận tâm với khách. Có như vậy, mục đích của đoàn khách mới thực hiện được.
Hướng dẫn viên cần lưu ý một điều nữa là, nhiều khi, các du khách cựu chiến binh tìm thấy nơi, vị trí chiến trường xưa, họ thường có cuộc đàm đạo với nhau về chuyện quá khứ. Lúc này sự có mặt hoặc tham gia của người hướng dẫn là không cần thiết. Là hướng dẫn viên kinh nghiệm, bạn hãy lánh xa đoàn một chút cho đoàn khách tự do suy ngẫm, đắm mình trong những kỷ niệm xa.
Trần Tuấn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(181)2001

Những vùng núi cao băng giá và những biển sâu tối đen như mực

Hiện nay trên bề mặt trái đất, không nơi nào mà con người không thể đi tới. Năm 1953, người Anh đã chinh phục đỉnh Êvơrét cao 8882m. Năm 1960, nhà bác học Thụy Sĩ đã ngồi trong máy, lặn tới đáy vực biển Marian, sâu 11521m. Ở những nơi này cuộc sống các sinh vật sẽ ra sao?
1-Những vùng núi cao băng tuyết vĩnh cửu.
Những vùng núi cao băng tuyết vĩnh cửu ở khắp mọi nơi trên thế giới, kể cả ở xích đạo và ở những vùng ôn đới. Giới hạn của băng tuyết vĩnh cửu là giới hạn mà ở độ cao nơi đó, mùa hạ cũng như mùa đông tuyết và băng luôn tồn tại và phủ trắng sườn núi, đỉnh núi. Ở các vùng nhiệt đới, giới hạn đường băng tuyết vĩnh cửu thường giao động từ 4500m đến 4800m. Ở Việt Nam đỉnh cao nhất là ngọn Fanxipăng cao 3143m còn nằm phía dưới đường băng tuyết vĩnh cửu.
Dưới đường băng tuyết vĩnh cửu, vào mùa hè băng và tuyết tan hết. Mặt đất lộ ra và mọc lên một lớp cỏ ngắn mà trong khoa học người ta gọi là đồng cỏ an-panh. Trên đồng cỏ này vào mùa hè, cuộc sống cũng diễn ra nhộn nhịp.
Đặc điểm ở những vùng núi cao là khi áp thấp và mưa nhiều. Ở sườn núi có nhiều ánh nắng mặt trời, nhiệt độ không khí cao thì nơi đó có nhiều côn trùng như ong núi, bướm, giáp trùng. Động vật bò sát vì có máu lạnh, không phù hợp với khí hậu lạnh nên rất ít gặp. Ở độ cao, nơi có những bãi cỏ an-panh phát triển người ta gặp nhiều các thú ăn cỏ và theo chúng là các thú ăn thịt. Các thú ăn cỏ ở đây rất thạo leo trèo, đi lại trên các sườn núi dốc. Chúng có khả năng trượt băng, nhảy qua các lạch sâu vì có như vậy mới trốn được thú dữ. Bò rừng núi cao có khả năng leo trèo các dốc cao, chạy nhảy rất tài. Những con bò nhỏ vài tháng tuổi hoặc nửa năm tuổi cũng chạy rất nhanh. Chúng có thể leo xuống được những vách đứng cao 1m. Điều kiện leo trèo đã đào thải các thú ăn cỏ lớn (trừ con bò), nên chỉ còn lại những loài nhỏ như sơn dương, linh dương, cừu núi…Động vật ở núi cũng theo thời tiết mà di cư, chẳng hạn bò rừng ở Cápcadơ, mùa hạ ăn cỏ từng đàn nhỏ trên núi cao, nhưng đến mùa thu khi có tuyết rơi thì chúng xuống núi, tìm tới những khu rừng ấm áp hơn. Di cư của các loài động vật có vú là đặc điểm của sinh hoạt động vật ở núi cao.
2- Những vực biển sâu luôn tối đen như mực.
Đại dương thế giới có 5 vực sâu trên 10.000m và đều nằm ở đáy Thái Bình Dương, vực sâu nhất là vực Marian do tàu Chllenger II đo năm 1951 được 10.863m, sau tàu Vitiaz đo lại được 10.998m rồi ngày 23 tháng giêng 1960, nhà bác học Thụy Sĩ J.Piccard ngồi trong máy, lặn xuống đo lại được 11.521m.
Tại những vùng biển sâu, bắt đầu từ 1.500m trở xuống, nước biển đã tối đen như mực, áp lực rất lớn, nhiệt độ rất thấp nhưng không dưới 400 C và rất yên tĩnh. Nguồn thức ăn của động vật vùng biển sâu là xác những con vật ở tầng trên bị chết rơi xuống. Những xác chết ở tầng nước thứ hai ăn, rồi xác các động vật ở tầng hai lại bị tầng 3 ăn. Cứ như thế cho đến đáy biển, hình thành một dây xích thức ăn phức tạp theo hướng thẳng đứng.
Ở biển sâu vì không có thực vật nên các động vật ăn thịt lẫn nhau, con khỏe ăn con yếu, con lớn bắt con bé. Đáy biển sâu thường phủ một lớp bùn lầy nhầy nên động vật sống ở đáy biển thường có chân dài để chống lại sự sa lầy. Điều kiện sinh thái ở biển sâu rất đơn điệu và các sinh vật sống ở môi trường này gần như giống nhau ở mọi đại dương thế giới. Tuy nhiên ở đây cũng có những động vật to lớn khác thường, có loài thủy tức Monocaulus impérator sống bám vào đáy biển, ở độ sâu 6000m cao bằng người.
Vì đáy biển sâu bao giờ cũng tối đen nên xúc giác của động vật phát triển cao độ, còn thị giác thì thường thoái hóa, mất đi hoặc phát triển rất mạnh. Mắt con tôm Cytismor neptuni sống ở Đại Tây Dương chiếm 1/3 mặt ngoài lưng của nó. Ngoài ra có những loài có khả năng phát quang, tác dụng của việc phát quang này có lẽ là để chiếu sáng đường đi, hoặc để dọa đuổi kẻ địch, hoặc để dụ dỗ con mồi tới mà bắt.
Nguyễn Thái – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(181)2001

Hội nghị quốc tế về du lịch – Phần 2

Điều quan trọng hơn là người dân địa phương nhận thức được họ đang tham gia vào việc bảo vệ môi trường của đất nước và của toàn cầu và họ có lợi ích kinh tế từ du lịch.
Các khu vực nhạy cảm
Cần có những điều kiện cụ thể quy định các hoạt động du lịch tại khu di sản văn hóa thế giới và các khu vực được bảo vệ. Hoạt động du lịch tại các khu vực này phải tuân thủ kế hoạch quản lý trong việc thừa nhận bảo tồn các giá trị di sản là mục tiêu hàng đầu trong công tác quản lý đất đai. Kế hoạch này bao gồm đánh giá về môi trường, giám sát hiệu quả các chỉ số về môi trường cũng như về kinh tế, xã hội và thường xuyên đánh giá mức độ thành công hoặc những mặt khác của các hoạt động, các công cụ quản lý nguồn tài nguyên và khách du lịch.
Một số công cụ nữa phục vụ quản lý nguồn tài nguyên, đó là công tác khoanh vùng trong những khu vực nhạy cảm sẽ xác định rõ nơi nào là du lịch được phép hoạt động, nơi nào có thể xây dựng cơ sở hạ tầng và quan trọng hơn là nơi nào không được phép xây dựng.
Những vấn đề khác:
Sử dụng tiết kiệm nước và năng lượng là vấn đề cơ bản để phát triển bền vững và một tương lai bền vững. Hiện có những giải pháp về công nghệ và quản lý phát triển bền vững để các nhà hoạch định du lịch của các quốc gia đang phát triển ở châu Á – Thái Bình Dương cần phải tiếp cận. Cơ chế trao đổi qua mạng là phương thức giúp họ tiếp cận các công nghệ này.
Chương trình toàn cầu mang tên “Xanh hóa cơ sở vật chất và cơ sở lưu trú du lịch” cũng cần được mở rộng. Chương trình này giúp các khách sạn tiết kiệm đáng kể chi phí và góp phần nâng cao nhận thức của các công chúng và những biện pháp bảo vệ môi trường và hy vọng rằng trong tương lai có thể áp dụng để duy trì phát triển du lịch bền vững.
Hoạt động du lịch có mức độ trao đổi thông tin cao, thành công của du lịch phụ thuộc vào trình độ học vấn của người dân địa phương. Vì vậy, cần ưu tiên, tạo mọi điều kiện để mọi người tham gia nâng cao chất lượng giáo dục cơ sở tại các điểm du lịch. Tương tự như vậy, cần mở rộng đầu tư cho đào tạo chuyên môn và nâng cao năng lực ở phạm vi địa phương để đảm bảo phân phối công bằng những lợi ích cho nhân dân địa phương.
Cùng có hệ thống thông tin và nâng cao nhận thức là khía cạnh quan trọng trong quản lý nguồn tài nguyên phục vụ phát triển bền vững. Một chương trình nghiên cứu khoa học toàn diện bao trùm các lĩnh vực trong du lịch là một phần của bất kỳ kế hoạch phát triển du lịch, chương trình này cần cần nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế. Đánh giá và rà soát cũng là những phần quan trọng của quá trình kiểm tra, giám sát. Nó đảm bảo các chương trình thực hiện đúng hướng, cho phép có những điều chỉnh phù hợp với những biến động của thực tế, định hướng sử dụng hiệu quả những nguồn lực của cả thành phần nhà nước và tư nhân.
Những chỉ số bền vững là công cụ hiệu quả giúp thực hiện quá trình giám sát và đánh giá. Xét theo mục tiêu cuối cùng, chúng là những tiêu chuẩn đánh giá tiến độ phát triển.
Hội nghị cũng nhất trí với những nguyên tắc thực hiện du lịch bền vững của chương trình môi trường liên hiệp quốc – UNEP, các quy tắc ứng xử trong du lịch của WTO và nguyên tắc Dakar về du lịch tại các di sản thế giới.
Sẽ không thể duy trì có khả năng cạnh tranh cao, đa dạng và bền vững nếu không đánh sự quan tâm đầy đủ tới 3 chủ đề nêu trên. Trên thực tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển một ngành du lịch mang lại hiệu quả kinh tế, dựa trên sự tham gia của cộng đồng địa phương, sự bền vững về tài nguyên thiên nhiên và các di sản, có tác động tương đối với việc bảo vệ các nguồn tài nguyên của khu vực.
Thúy Thúy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001

Hội nghị quốc tế về du lịch – Phần 1

Hội nghị quốc tế về du lịch đảo bền vững ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Từ ngày 6-8/12/2000 tại khu du lịch Gloria Sanya, Hải Nam – Trung Quốc đã diễn ra hội nghị về du lịch đảo bền vững ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương. Hội nghị tổ chức du lịch thế giới (WTO), Chương trình môi trường liên hợp quốc (UNEP) phối hợp tổ chức với sự hỗ trợ của của UNESCO, Cục du lịch Quốc gia Trung Quốc và chính phủ tỉnh Hà Nam. Tham gia hội nghị có trên 100 đại biểu từ 23 quốc gia khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và đại diện của 7 tổ chức liên hoan chính phủ. Hội nghị đã đi đến một số kết luận quan trọng, đánh giá như là bản Tuyên bố Hải Nam về Du lịch đảo bền vững ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, toàn văn như sau:
Những vấn đề trọng yếu đối với phát triển du lịch đảo bền vững ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
Không có hoạt động kinh tế nào liên quan tới nhiều ngành, nhiều cấp và mang lại nhiều lợi ích như du lịch: Vì thế, yêu cầu thiết yếu là phải gắn quy hoạch phát triển du lịch với kế hoạch phát triển quốc gia và kế hoạch quản lý tài nguyên.
Cụ thể tham gia:
Phát triển du lịch đảo bền vững ở khu vực châu Á –Thái Bình Dương đòi hỏi phải có sự phối hợp hiệu quả giữa chính phủ, ngành du lịch, chủ sở hữu đất, các nhà quản lý đất và cộng đồng địa phương.
Thông qua sự lãnh đạo về thể chế, Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự tham gia của các chủ thể. Vai trò của Chính phủ được thể hiện qua sự thiết lập các cơ chế về chính sách cả quy định, đảm bảo tính hiệu lực của công chúng, áp dụng các chính sách kinh tế phù hợp gồm cả việc xóa bỏ trợ cấp bất hợp lý trong bảo vệ môi trường và giám xác chất lượng môi trường.
Khu vực tư nhân cần phải đóng góp kinh nghiệm chuyên môn trong việc thành lập, thị trường và vận hành các doanh nghiệp du lịch theo hướng bền vững và hiệu quả. Ngành du lịch có vai trò quan trọng đối với sự phát triển, giới thiệu áp dụng các công nghệ môi trường phù hợp, các phương thức quản lý, lập kế hoạch và sử dụng đất đai bao gồm lựa chọn vị trí, marketing bao gồm cả nhãn hiệu và sinh thái và giáo dục nhận thức cho khách du lịch. Khi quy hoạch du lịch, cần chú ý xác định từng nhóm, phân đoạn thị trường cụ thể, phù hợp với sản phẩm du lịch thị trường đưa ra. Nếu cần thiết, các tập gấp quảng cáo cần dành một phần thích hợp để cung cấp thông tin về nguồn tài nguyên văn hóa, xã hội và môi trường của đất nước.
Chủ sở hữu đất, các nhà quản lý khu vực được bảo vệ và các tổ chức phi chính phủ về môi trường cần duy trì môi trường nguyên vẹn ở các khu tài nguyên tự nhiên và các điểm du lịch tự nhiên.
Cộng đồng dân cư địa phương cần phải giữ gìn bản sắc văn hóa và nền tảng xã hội, giúp cho du khách hiểu thêm về giá trị văn hóa bản địa và mang lại lợi ích kinh tế cho nhân dân địa phương. Một trong những sai lầm trước đây trong công tác quy hoạch du lịch là sự thiếu quan tâm tới ý kiến của cộng đồng dân cư địa phương và những quyết định có tác dụng trực tiếp đến cuộc sống và tương lai của họ.
Vì vậy, điều quan trọng là người dân địa phương phải hiểu được họ là những chủ thể cốt lõi trong việc duy trì và đẩy mạnh phát triển ngành du lịch. Điều này đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của cộng đồng địa phương, phải có chương trình giáo dục ở các cấp về vai trò của du lịch đối với môi trường và kinh tế.
Thúy Thúy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001

Sapa đói nguồn vốn đầu tư về du lịch

Tính đến nay, Sapa đã có 62 khách sạn, nhà nghỉ gồm 734 phòng với 1.500 giường, đủ sức đáp ứng lượng khách du lịch trong những ngày cao điểm nhất. Lượng khách du lịch đến Sapa tăng đều hàng năm. Nếu như năm 1996, Sapa chỉ có 4.114 khách quốc tế, thì đến năm 2000 số khách nước ngoài đến Sapa đã tăng lên gần 20.000 lượt. Doanh thu đạt 23 tỷ đồng, góp phần đưa du lịch trở thành nguồn thu quan trọng của huyện.
Sự phát triển vượt bậc của du lịch Sapa trước hết là do hàng năm, tỉnh đã bỏ ra lượng tiền không nhỏ để đầu tư đường giao thông tới các khu, điểm du lịch trọng điểm của huyện. Một số dự án phục vụ du lịch như hồ du lịch Sapa, khu du lịch Hàm Rồng đã làm thay đổi bộ mặt đô thị và cảnh quan khu du lịch, làm tăng lượng khách đến Sapa trong những năm gần đây.
Tuy nhiên, sau 10 năm hoạt động du lịch, Sapa vẫn đang trăn trở vì thiếu vốn đầu tư cho các dự án lớn như các khu vui chơi giải trí tổng hợp, các mô hình làng văn hóa dân tộc, công viên… Ngoài khu du lịch Hàm Rồng, hồ du lịch Sapa thì ở đây chưa có dự án đầu tư du lịch nào tạo lực hút mới đối với khách du lịch. Nếu phân tích thị hiếu và tâm lý khách du lịch để có hướng đầu tư thì có thể thấy du khách nội địa là những người chủ yếu đến Sapa vào mùa hè nhằm trốn cái nắng oi ả của cùng đồng bằng và thưởng thức khí hậu mát mẻ của miền núi. Ngược lại, du khách quốc tế là những người bị hấp dẫn bởi tính đa dạng của các cộng đồng dân tộc thiểu số và môi trường miền núi của Sapa. Hai đối tượng khách còn được phân biệt bởi các hình thức hoạt động ở Sapa. Thường thì khách quốc tế là những người có sức khỏe, nhu cầu về ăn nghỉ không quan trọng lắm, điều cốt yếu là họ thích được đi du lịch sinh thái, leo núi và thăm các bản làng dân tộc người Mông, người Dao… Họ cũng đã chán cảnh “nhà cao cửa rộng” với các tiện nghi hiện đại và cuộc sống căng thẳng bởi những công việc. Họ đến đây là để thưởng thức văn hóa đích thực của Sapa; quan tâm đến những cái gì còn nguyên sơ, nguyên bản của vùng miền núi. Ngược lại, khách du lịch nội địa đến Sapa ít quan tâm đến việc đi thăm thú các bản làng dân tộc, leo núi mà thường chỉ đi thăm một số nơi như khu du lịch Hàm Rồng, khu Thác bạc và dạo xung quanh thị trấn, rồi về khách sạn nghỉ ngơi để sáng hôm sau lên đường, kết thúc chuyến du lịch của mình tại Sapa. Thực ra nhu cầu chính của khách du lịch nội địa là cần những khu vui chơi giải trí như các điểm hát Karaoke, thưởng thức nhạc, ăn uống giải khát và các dịch vụ khác như massage, tắm hơi… Mà những dịch vụ này hiện nay ở Sapa đang thiếu và vì vậy Sapa rất cần những nguồn vốn đầu tư để có được những khu du lịch theo đúng nghĩa trong đó có đầy đủ các khu vui chơi giải trí với các dịch vụ tổng hợp, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Sự phân tích, so sánh hai đối tượng khách như trên chỉ là tương đối, vì có khá nhiều khách du lịch nội địa đưa ra ý kiến là họ cũng thích đi leo núi Phan Xi Păng, hay thăm các tuyến du lịch bản làng nhưng vì đường giao thông của Sapa tuy đã được đầu tư nhưng vẫn còn khó đi, tuyến du lịch leo núi Phan Xi Păng lại càng khó đi hơn. Chẳng hạn, thông thường, khách du lịch muốn leo núi Phan Xi Păng thì phải mất khoảng 4 ngày/3 đêm, đi như vậy rất mệt, chỉ phù hợp với khách nước ngoài, còn khách trong nước ít người có đủ sức khỏe và can đảm để leo. Nhưng nếu có một con đường dẫn lên núi Phan Xi Păng với các nhà nghỉ để dừng chân dọc đường hợp lý thì thời gian tham quan núi Phan Xi Păng sẽ được rút ngắn, phù hợp với nhu cầu của khách nội địa. Một loạt các dự án khác có thể đầu tư ở Sapa để thu hút khách du lịch như dự án quy hoạch bãi đá cổ (di tích được Nhà nước xếp hạng); dự án xây dựng làng dân tộc trên núi Hàm Rồng; dự án xây dựng công viên cây xanh và khu vui chơi giải trí tổng hợp; dự án đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho Sapa và dự án quy hoạch môi trường đô thị.
Trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam, Sapa được xác định là một điểm du lịch quan trọng cấp quốc gia, thuộc tiểu vùng du lịch miền núi Tây bắc của vùng du lịch Bắc bộ. Sapa là một điểm du lịch trên tuyến du lịch quốc gia Hà Nội – Lào Cai và tuyến du lịch nối liền các tỉnh vùng Đông bắc và Việt Bắc Việt Nam, đồng thời cũng là điểm du lịch quan trọng trên tuyến biên giới Việt Trung. Phát triển du lịch Sapa là nằm trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch chung của cả nước, nhằm tạo ra một hệ thống sản phẩm du lịch hoàn chỉnh, gồm nhiều loại hình đa dạng phong phú theo hướng văn hóa, sinh thái, cảnh quan môi trường. Để đạt được mục tiêu trên, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng, đã đích thân đi khảo sát hiện trạng khu du lịch Sapa và đã có quyết định đưa Sapa trở thành một trong những khu du lịch chuyên đề của cả nước để có hướng đầu tư. Tiềm năng và triển vọng của du lịch Sapa là đã quá rõ ràng. Theo tính toán thì nguồn vốn đầu tư vào các dự án phát triển du lịch Sapa trong giai đoạn 2001 – 2005 là khoảng trên 30 tỷ đồng.
Để Sapa phát triển du lịch mạnh mẽ hơn nữa, xứng đáng là khu nghỉ mát nổi tiếng của cả nước thì ngoài nguồn vốn đầu tư của tỉnh Lào Cai hàng năm, trong thời gian tới Sapa rất cần có sự quan tâm của Tổng cục Du lịch và các ngàng Trung ương trong việc hỗ trợ nguồn tài chính thỏa đáng, nhằm biến Sapa thực sự trở thành một “Đà Lạt của phương Bắc”.
Nguyễn Đình Dũng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(181)2001

Báo động về chợ trời ngoại tệ

Ngày nào cũng vậy, tại các trung tâm du lịch thương mại lớn của Hà Nội như phố Đinh Lễ, Tràng Tiền, đền Ngọc Sơn, trước cửa Bưu điện quốc tế đều có “chợ” ngoại tệ mạnh hoạt động nhộn nhịp gần như 24/24 giờ. Từ mác Đức, bảng Anh, phờ răng Pháp, yên Nhật cho đến nhân dân tệ Trung Quốc, bạt Thái Lan… Họ ngọt ngào nhưng khi cần cũng sẵn sàng sần sổ với khách, nhất là khách du lịch nước ngoài.
Một vốn bốn lời
Tôi vừa dừng xe trên đường Đinh Tiên Hoàng, một phụ nữ to béo khệ nệ đến gần và hất hàm: “Bán đô không?”. Tôi hỏi: “Giá bao nhiêu?”. “14.680”. Đang lúng túng vì làm gì có đô để đổi thì một chiếc xe máy tạt vào, người đàn ông móc túi lấy ra mấy tờ loại mệnh giá 100USD. Cầm tiền xong, ông ta đưa lên soi. Thấy vậy bà béo bĩu môi: “Khỏi cần lăn tăn đi”. Người đàn ông nhếch mép: “Có việc gấp mới phải ra đây chứ sợ bỏ mẹ đi. Tiền giả bây giờ nhan nhản”. Nói rồi ông ta lao vút đi.
Sở dĩ những nơi này trở thành điểm lý tưởng để lập chợ vì gần Bưu điện quốc tế, có nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm cho khách du lịch và trung tâm vàng bạc đá quý có chức năng thu đổi ngoại tệ, thu hút hàng trăm lượt khách trong và ngoài nước mỗi ngày. Chính vì vậy mà mỗi khi có người nước ngoài đi qua là có đến 4-5 “con phe” sà vào, dí tiền Việt vào mặt khách, đồng thời mời chào bằng một thứ tiếng Anh mà ta chỉ nghe được rõ mỗi tiếng “hê lô” và “đô la”. Thường họ dai dẳng bám theo cho đến khi khách chịu đổi, hoặc bị xẵng giọng mới chịu rút lui.
Phần lớn khách hàng đến nơi này đổi tiền thưởng là có việc gấp hoặc du khách ngoại quốc chưa quen thuộc địa bàn. Qua điều tra, chúng tôi được biết, họ thường mua vào với giá cao hơn giá của Nhà nước từ 3.000 – 5.000 đồng/100USD, nhưng lại thấp hơn cửa hàng tư nhân từ 3.000 – 4.000 đồng/100USD. Nhưng nếu chỉ hưởng chênh lệch theo kiểu làm ăn “chân chính” này thì lời cũng chẳng được là bao. Lãi chính của họ là gặp được những “chú gà mờ”, nhất là những ông bà Tây chưa nắm chắc giá thì khoản tiền chênh lệch có khi lên tới 40.000đ/100USD. Và khoản lời nữa mà họ được hưởng là gài những đồng tiền giả trong cả tập tiền thật. Tôi đã tận mắt chứng kiến một du khách Pháp, sau khi đổi xong vào mua tranh sơn mài, khi rút tiền ra trả, bị nhân viên bán hàng trả lại 2 tờ loại 50.000 giả. Lúc này ông khách nọ mới ngớ người ra ú ớ nhưng chỉ còn biết lắc đầu chứ kêu ai? Vậy, nếu cứ mỗi tập tiền tương ứng với 100USD, họ chỉ cần gài 1 tờ 50.000đ là đã OK! Buôn bán nào lãi cho bằng?
Bao giờ hết “chợ trời” ngoại tệ?
Có một điều lạ là hiện tượng chèo kéo khách thu đổi ngoại tệ diễn ra ngang nhiên như vậy, nhưng bảo vệ tại các điểm này vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Tại sao vậy? Những “con phe” quá “đầu gấu”, đến nỗi làm “cánh” bảo vệ phải làm thinh hay đằng sau sự lặng thinh đó là một điều gì mờ ám? Còn nữa, ngày 13/6/2001, ông Lê Văn Sử – Phó Công an phường Lý Thái Tổ (địa bàn có nhiều “chợ” ngoại tệ) “hồn nhiên” trả lời chúng tôi: “Trên địa bàn phường không có hiện tượng đó”. Liệu có phải công an phường Lý Thái Tổ thực sự không biết?
Theo quy định của Nhà nước thì việc mua bán ngoại tệ ở thị trường tự do là bất hợp pháp. Chẳng những thế, việc mua bán trái phép này đã làm thất thoát một khoản thuế của Nhà nước, góp phần làm trôi nỗi những đồng tiền giả trên thị trường. Đặc biệt, việc đeo bám khách, nhất là khách du lịch nước ngoài đã làm ảnh hưởng đến văn minh xã hội, để lại hình ảnh không đẹp về đất nước, con người Việt Nam trong lòng du khách quốc tế.
Để “chợ trời” ngoại tệ không còn hoạt động, trước hết các ngành hữu trách cần có những biện pháp thật nghiêm để dẹp bỏ tình trạng này. Đồng thời, ngành ngân hàng cũng cần năng động trong thu đổi ngoại tệ, sao nhanh chóng, tiện lợi. Có như vậy “chợ trời” ngoại tệ mới hết đất để “tung hoành”.
Một vùng sinh thái du lịch trong tầm tay
Chiều. Chúng tôi được xã “chiêu đãi” một tour quanh khu Vân Long, vùng đất ngập nước bao bọc những dãy núi đá vôi với diện tích 3.500 ha, trong đó có 998 ha ngập nước. Những dãy núi đá vôi tạo thành các đảo với nhiều hang động, thung lũng, rừng cây. Hệ thực vật ở đây rất phong phú, bên cạnh các giống đặc trưng của vùng núi đá vôi như chò chỉ, đinh, nghiến, trai còn có một số cây dược liệu như bình vôi, ba kích, kim lâu, lá khói và nhiều loại cây cảnh khác. Dưới nước có nhiều loại rêu, những loại cây điển hình của vùng đất ngập nước vùng đồng bằng Bắc bộ và nhiều loài thủy sinh như rùa sọc vàng, cá cuống…
Bỗng ai đó chỉ tay về phía mấy tảng đá ven bờ: Xem kìa, bọn “tắc dọt” đấy!
Chúng tôi nhìn theo. Một đàn voọc quần trắng độ 7 – 8 con đang “cãi nhau” chí chóe trong lùm cây. Anh Luân (người chèo thuyền) tỏ ra là một “tourist guide” đầy hiểu biết vào mùa đông có cả những loài chim quý như sâm cầm, ngỗng trời, phượng hoàng đất… về đây tránh rét. Người nước ngoài đến nghiên cứu cũng nhiều. Vừa có một đoàn Pháp làm phim về chim di cư…
Tôi bỗng nhớ lại lời Giáo sư Nguyễn Trọng Hiệu: Vân Long nằm trong dự án môi trường thành công nhất từ trước tới nay, nhất là các mô hình sản xuất. Đây sẽ là một tiền đề để nhân rộng ra các nơi khác.
Và mặc dù khách du lịch vẫn còn ít biết đến, nhưng tôi tin rằng, chẳng bao lâu nữa, Vân Long sẽ trở thành một điểm du lịch sinh thái đầy hấp dẫn.
Minh Hương – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(181)2001

Dự án nâng cấp chất lượng nước Hồ Tây – Phần 2

Về phân tích tài chính, cơ sở xác định giá thành xây dựng các hạng mục công trình chưa cụ thể, còn ước lệ. Cấu trúc thiết minh dự án rời rạc, tản mạn và nhiều chỗ không rõ ràng”. Về vấn đề này, chúng tôi xin không bình luận thêm mà dành cho các nhà chuyên môn cùng xem xét và có ý kiến.
Xung quanh dự án NCCLNTH vẫn còn nhiều ý kiến về vấn đề này: chất lượng nước sông Hồng, khả năng xử lý nước sông Hồng, xử lý nước thải từ Hồ Tây ra sông Hồng, an toàn đê điều, tác động của việc thay nước đối với hệ sinh thái truyền thống ở Hồ Tây… dĩ nhiên, các ý kiến trên đều bắt nguồn từ tấm lòng yêu quý Hà Nội, ý thức trách nhiệm cao đối với trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế của cả nước. Bài viết này xin kết thúc bằng ý kiến đánh giá một sử gia ông Dương Trung Quốc, Tổng thư ký hội sử học Việt Nam: kinh phí lịch sử cũng như bài học thực tiễn của đời sống cho thấy, chúng ta không nên can thiệp thô bạo vào thiên nhiên mà tìm ra những giải pháp thích hợp để tăng cường khả năng thiên nhiên tự điều chỉnh, trong đó có việc tăng cường ý thức trách nhiệm của con người đối với thiên nhiên cũng như đối với thế hệ mai sau”.
Những phát hiện và phát minh của loài người từ năm 1970 đến năm 2000.
Năm 1971: Liên Xô phóng tên lửa vũ trụ Saliut I và cũng năm nay Hoa Kỳ phóng tên lửa Vikinh lên Sao Hỏa. Các máy móc của Vikinh truyền lại những hình ảnh bề mặt Sao Hỏa về Trái Đất.
Năm 1974: Đonan Iohanson phát hiện tại Etiopia Châu Phi một bộ xương người cổ có niên đại 3,2 triệu năm.
Năm 1976: Máy bay Congcooc siêu âm được đưa vào sử dụng sau một thời gian thí nghiệm bay.
Năm 1981: Hoa Kỳ phóng tàu con thoi lên vũ trụ thành công. Loại tàu này có thể bay trở về Trái đất.
Năm 1985: Pháp và Hoa Kỳ cùng phát hiện ra virut HIV.
Năm 1985: tìm thấy tàu Titanic ở độ sâu 4.200 m. Titanic là tàu biển vượt đại dương lớn nhất và tốt nhất vào đầu thế kỷ 20 – Tàu chở trên 1000 hành khách đi từ châu u sang Bắc Mỹ. Do băng trôi và bị vỡ ra làm đôi, chìm xuống đáy biển năm 1912.
Năm 1986: Hoa Kỳ phóng tàu con thoi Challenger lên tàu vũ trụ. Tàu bị nổ tung sau 1 phút 13 giây cất cánh vào ngày 28 tháng 1.
Năm 1986: ngày 25- 1 xẩy ra sự cố điện nguyên tử Chescnobun và từ đó hình thành một án mây phóng xạ trên bầu trời Châu u. Nhiều quốc gia đã phải hoãn lại các chương trình thí nghệm nguyên tử. Hoa kỳ đã hải hoãn việc phóng các tên lửa đến năm 1988.
Năm 1987: xuất hiện tàu chạy trên đường sắt hoàn toàn tự động ở nước Anh.
Năm 1990: bắt đầu thử nghệm giải mã gen người và lập bản đồ gen trong hệ thống gen người.
Năm 1996: cơ quan vũ trụ Nasa tìm thấy sự sống trên sao hỏa qua một cách nham thạch lấy từ sao hỏa về. Trên mặt hòn đá thấy nhiều dấu vết các loài vi khuẩn. Trước đó, năm 1984, các nhà khoa học cũng nhặt được ở biển băng Bắc Cực một hòn thiên thạch nặng 2 kg từ Sao Hỏa rơi xuống cách nay 13.000 năm. Trên mặt thiên thạch này cũng có dấu vết các vi khuẩn.
Năm 1997: Nhân bản vô tính thành công cừu Dolly ở nước Anh.
Năm 1999: thế giới khắc phục sự cố máy tính Y2K
Năm 2000: giải mã được 97% số lượng gen người và như vậy về cơ bản đã hoàn thành dự án gen người. trên cơ sở đó, các nhà sinh học đã mở ra một triển vọng mới trong lĩnh vực công nghệ sinh học và nhất là trong ngành y để chữa, khám bệnh cho con người.
Ngọc Thanh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Dự án nâng cấp chất lượng nước Hồ Tây – Phần 1

Dự án nâng cấp chất lượng nước Hồ Tây có cần thiết phải thực hiện?
Ngay sau khi Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội có thông báo số 63/TB – VPUB ngày 2.4.2001, về việc thống nhất nội dung chính của dự án “Dự án nâng cấp chất lượng nước Hồ Tây”, ngay lập tức dư luận đã có không ít ý kiến. Nhiều cơ quan thông tin đại chúng đã phản ánh bức xúc của các tầng lớp, đồng thời, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cũng có kiến nghị cho rằng văn bản ngày 3.2.2001 “bày tỏ sự lo lắng và không đồng tình với TP. Hà Nội triển khai dự án Nâng cấp chất lượng nước Hồ Tây (NCCLNHT) khi chưa xem xét một cách đầy đủ và nghiêm túc vấn đề đã được các nhà khoa học và dư luận xã hội nêu lên về tính bất khả thi, hiệu quả kinh tế cũng như tác động tiêu cực của dự án này đối với việc bảo vệ các giá trị sinh thái và văn hóa Hồ Tây
Quả thật, bên cạnh lý do là dự án sẽ ngốn một nguồn tài chính khổng lồ 32 triệu đô la chưa kể lãi vay của Áo, thì sự phản ứng của dư luận còn bắt nguồn từ thực tế: Hồ Tây đã bị ô nhiễm nặng đến mức phải thay nước với khoản tiền lớn đến thế chưa. Nhất là điều kiện hiện tại, việc cung cấp nước sạch cho người dân thủ đô mới chỉ đạt gần 80% và mùa hè nào, người dân cũng phải bòn chắt từng giọt nước cho sinh hoạt tối thiểu, thậm chí nhiều khu vực phải mua nước về dùng. Rồi hệ sinh thái truyền thống ở Hồ Tây di sản thiên nhiên quý của cả nước đã tồn tại hàng năm sẽ ra sao sau khi chất lượng nước đã được làm sạch như nước nước bể bơi?
Trước hết, không thể phủ nhận mục tiêu tốt đẹp của dự án NCCLNHTđã đưa ra là đem lại kết quả bền lâu, chất lượng nước cấp 2 nước dùng cho mục đích vui chơi giải trí, tất nhiên, nếu Hồ Tây đã bị ô nhiễm nặng. Thế nhưng, khi đọc những tài liệu liên quan đến dự án lại thấy có điều cần được lưu tâm. Trong “Báo chí chất lượng môi trường nước và thực ô nhiễm môi trường nước các hồ tại Hà Nội 1997- 1998” của ban chỉ đạo quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường phối hợp với viện khoa học các hợp chất thiên nhiên Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia ghi rõ: “Các kết quả phân tích các chỉ tiêu lý – hóa – sinh học cho thấy nước Hồ Tây tương đối sạch, đáp ứng được các yêu cầu của TCVN 5942 – 1995 về mặt nước”. Cũng trong hồ sơ dự án của NCCLNHT còn có kết quả mẫu nước Hồ Tây của sở KH – CN & MT Hà Nội vào cuối năm 1999 với nội dung: “ các chỉ tiêu phân tích PH, As, Pb, Cr, Cu, Zn, F, NO, phenol đạt tiêu chuẩn cột A của TCVN 5942 – 1995, còn các chỉ tiêu phân tích như BOD5, SS, Mn, Fe, Hg, Ni, Amonia, Xianua đạt tiêu chuẩn cột B của TCVN 5942 – 1995”. Trong kết quả phân tích của Sở Khoa học Công nghệ & Môi trường Hà Nội cũng ghi chú rõ ràng: “Cột A là áp dụng với nước mặt có thể dùng làm nguồn nước sinh hoạt, cột B áp dụng đối với nước dùng cho mục đích khác.
Rõ ràng, với những kết luận mang tính chất khoa học như trên, Hồ Tây không phải đã bị ô nhiễm đến mức cần thay nước. Chỉ có điều đáng tiếc, những số liệu trên nằm trong hồ sơ dự án nhưng hình như lại chưa được những người có trách nhiệm lưu tâm nên việc khẳng định cần thiết phải đầu tư cho Hồ Tây và thống nhất nội dung chính của dự án đã dễ dàng được thông qua.
Với ý thức trách nhiệm cao trong sự nghiệp xây dựng đất nước nói chung và thủ đô nói riêng, nhiều hội thảo khoa học xung quanh dự án NCCLNHT đã được tổ chức. Đa số ý kiến cho rằng, không nhất thiết phải thay đổi Hồ Tây với số tiền không nhỏ như vậy nhất là – khoản tiền lớn ấy chắc chắn con cháu chúng ta sẽ gánh trả nợ. Hơn nữa, Hà Nội đã có dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật xung quanh Hồ Tây đã được nhà nước phê duyệt và triển khai, trong đó có hạng mục xử lý nước thải của các khu dân cư quanh hồ. Như vậy, việc xử lý nguồn gốc làm ô nhiễm môi trường nước hồ đã được giải quyết rồi.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn thấy một số vấn đề đáng lưu tâm khi kết quả thẩm định dự án đầu tư NCCLNHT do công ty tư vấn xây dựng báo cáo: “Mặc dù phương án nêu ra tường đối khá hay những tính tối yêu không rõ vì không có các phương án công nghệ khác để so sánh
Ngọc Thanh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Xóa đói giảm nghèo

Xóa đói giảm nghèo nhờ nuôi rắn, trong khi hàng trăm nhà hàng mỗi ngày lấy rắn làm món ăn đặc sản thì có không ít nơi lại coi đây là con vật giúp họ “xóa đói giảm nghèo”. Hơn thế nuôi rắn còn là việc làm có ý nghĩa sâu xa nhằm bảo vệ sự cân bằng sinh thái đối với môi trường sống. Đầu xuân Tân Tỵ chúng tôi đã có dịp đến thăm một làng rắn như vậy…
Từ chuyện nuôi rắn… Làng Vĩnh Sơn thuộc huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc là nơi có nghề nuôi rắn nổi tiếng từ nhiều năm nay. Theo lời chỉ dẫn của anh Thanh, cán bộ xã Vĩnh Sơn, chúng tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Văn Hoa, một gia đình nuôi rắn với số lượng lớn ở trong làng.
“Chuồng rắn” của gia đình ông rộng chừng 40 m2 có tường, lưới bao quanh bao xung quanh, được xây dựng như hình một chiếc lều hai đầu có hai lỗ hổng. Phải cúi khom người xuống chúng tôi mới nhìn thấy hàng trăm con rắn được nuôi tập trung ở đây.
Ông Hoa kể: “Nhà tôi có nghề nuôi rắn hổ mang hơn chục năm nay, chủ yếu là nuôi rắn hổ mang thường. Nghề này tuy không nhỏ nhưng yêu cầu người nuôi phải thực hiện theo đúng quy trình kỹ thuật từ khi rắn còn bé đến lúc rắn trưởng thành. Tháng 6 bắt đầu là mùa sinh sản của rắn. Rắn còn con sau khi nở được đưa vào nuôi tập trung. Sau thời gian từ 6 đến 7 tháng, khi rắn đã lớn chuyển thành sang nuôi riêng mỗi con một ổ. Các ổ này được xây dựng kiểu hầm liền nhau, sâu từ 40 đến 50 cm, có nắp đậy. Cứ nuôi như vậy cho đến năm thứ 2 mới thành rắn thương phẩm”.
Ông Hoa còn cho biết thêm, làm nghề này tương đối nhàn hạ, mỗi ngày chỉ mất khoảng 1 đến 2 tiếng cho rắn ăn và vệ sinh chuồng trại. Thức ăn chủ yếu của rắn là chuột và cóc nên rất dễ mua.
So với nhiều nghề chăn nuôi khác, nghề nuôi rắn tuy không mất nhiều thời gian và công sức để chăm sóc nhưng lại mang tính chất nguy hiểm bởi chủ nuôi trong khi bắt hoặc cho rắn ăn nếu sơ ý rất có thể bị rắn cắn. Gặp những khi thời tiết không thuận hoặc chăm sóc không tốt rắn rắn rất dễ dễ có thể bị mắc bệnh, chết hàng loạt và chủ nuôi cùng bị mất trắng. Nhưng ngược lại nếu “thuận buồm xuôi gió” thì như nhận xét của ông Hoa – “đây thực sự là một nghề xóa đói giảm nghèo”!
… Đến việc phát triển kinh tế nhờ có nghề. Trong ngôi nhà mái khang trang với đầy đủ tiện nghi, anh Chu Đức. Tiếp, một người nuôi rắn của Vĩnh Sơn khoe: “ Có được những thứ này là nhờ rắn đấy!”. Anh cho biết gia đình tôi bắt đầu nuôi rắn từ năm 1991 cho đến nay. Lúc đầu cũng chỉ nuôi theo kiểu “tính công điểm” cho trại rắn của xã. Khi trại rắn giải thể mới chuyển sang nuôi theo mô hình gia đình. Hiện nay với 100 đầu rắn, bán với giá 200.000 đ/ kg, thì trừ tất cả chi phí chăn nuôi , gia đình thu lãi được từ 10 đến 15 triệu đồng/ năm.
Vĩnh Sơn là một làng quê nghèo, thuần nông của tỉnh Vĩnh Phú, từ khi có nghề nuôi rắn bộ mặt làng quê đã hoàn toàn thay đổi. Ông Nguyễn Văn Quyết, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Vĩnh Sơn cho biết: “ Năm 1979, làng Vĩnh Sơn xây dựng một trại nuôi rắn rộng 2,3 ha chuyên nuôi rắn sinh sản, là nguồn cung cấp rắn cho người dân. Từ năm 1993, trại rắn không hoạt động nữa chuyển về chăn nuôi theo quy mô các hộ gia đình. Việc nuôi rắn theo quy mô gia đình vừa dễ chăm sóc, không phải đầu tư lớn mà hiệu quả cũng cao hơn. Hiện nay 100% hộ nông dân đều nuôi rắn, trong đó 75% hộ nuôi theo số lượng lớn. Một năm toàn xã xuất khẩu khoảng 10 tấn rắn cung cấp cho các thị trường Hà Nội, Quảng Ninh, Tuyên Quang, và bán sang Trung Quốc. Từ nghề nuôi rắn này, chúng tôi đã giải quyết việc làm cho 2.500 lao động địa phương, đồng thời tăng thu nhập cải thiện đời sống của người dân. Năm 1996, cả xã mới có 2 máy điện thoại đến năm 2000 trung bình cứ 54 người có 1 máy, 7 người có 1 tivi màu.
Ông chủ tịch ủy ban nhân dân xã Vĩnh Sơn cho biết: “Theo cơ sở pháp lý, các hộ gia đình nuôi rắn đều phải đăng ký, nhưng thực ra đây là một làng nghề, nên chúng tôi cũng tạo điều kiện để người dân phát triển kinh tế”. Bằng cách trả lời của ông Quyết và qua thực tế tìm hiểu chúng tôi được biết hiện vẫn có một số gia đình nuôi rắn mà chưa đăng ký với xã.
Không chỉ riêng Vĩnh Sơn, hiện nay ở một số địa phương như làng Lệ Mât (Gia Lâm, Hà Nội), hay tại các huyện Thanh Bình, Tam Nông (tỉnh Đồng Tháp) nghề nuôi rắn cũng đang phát triển đưa đời sống người dân đi lên.
Tuy nhiên, bên cạnh việc khuyến khích tạo điều kiện cho bà con phát triển nghề, cần có sự quản lý chặt chẽ hơn để góp phần bảo tồn rắn tự nhiên, làm câ bằng sinh thái, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật của Nhà nước.
Tơ hồng
Theo câu quan họ tôi tìm
Không lời hẹn, vẫn cứ lên với người
Nón quai thao gặp đầy rắc rối!
Vành trăng che nửa nụ cười trao duyên…
Tôi về đây với Hội Lim
Qua cầu muốn lội xuống tìm ca dao
Áo tứ thân chợt thoáng qua
Đã nghe thấy nhịp đạm đà trống Cơm.
Gặp người, chưa kịp làm quen
Liền anh bỗng tới kéo liền chị đi!
Sông Cầu ghen – sóng thầm thì
Mái chèo khua, dáng thuyền đi nhạt nhòa…
Trách gì con nhện thoáng qua
Tơ chăng mỏng mảnh gió lùa tơ bung!
Trống Cơm ai vỗ bập bùng,
Áo tứ thân chắc ướt đẫm như mưa?
Hội Lim có tự ngàn xưa
Về đây vẫn thấy bất ngờ – hội Lim
Vịn câu quan họ tôi tìm
Người ơi có hẹn tôi lên? Một ngày
Xuân Thùy – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

El Nino và tác động của nó đến du lịch

El Nino (tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là chúa Hài Đồng), là tên mà những thủy thủ Pểu đặt cho hiện tượng dòng nước ấm chảy về phía Nam ngoài khơi bờ biển Pêru, Êcuađo, thường bắt đầu từ khoảng lễ Thiên Chúa Giáng Sinh, gây nên những dị thường về khí hậu, thời tiết và tài nguyên vùng bờ Đông Thái Bình Dương, như mưa lớn trong vùng núi cao, hoang mạc và sản lượng cá trỗng trên biển cũng như số lượng chim trên các đảo khu vực giảm mạnh. Ngoài ra, giữa các kỳ El Nino trong khu vực thường xảy ra hiện tượng La Nina, gây khô hạn nghiêm trọng những vùng vốn khan hiếm nước trong khu vực.
Sau đó, các nhà khoa học nhận thấy El Nino và La Nina có mối liên hệ nội tại với các hoàn lưu khí quyển cầu và các nhiễm loạn của dao động Nam Bán cầu (gọi tắt là SO), gây biến động thời tiết, khí hậu các nước trong và ven biển Thái Bình Dương. Do đó người ta sẽ đặt cho toàn bộ quá trình một cặp tên chung: ENSO nóng là El Nino va Dao sông Nam, còn ENSO lạnh là La Nina và Dao động Nam. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người ta vẫn quen dùng thuật ngữ El Nino và La Nina hơn.
Trước đây, El Nino chỉ gây biến động thời tiết khu vực ven bờ Thái Bình Dương. Nhưng hai kỳ El Nino cuối đã gây ra những biếng động khí hậu quy mô toàn cầu. Diễn biến một kỳ El Nino trước đây chỉ vài tháng, nay kéo dài hàng năm. Hệ quả của El Nino là không thể tính được hết, đặc biệt là khi nó cộng hưởng với những nhiễu động thời tiết khu vực khác. Người ta có ý cho rằng sự gia tăng quy mô không gian và thời gian của thảm họa El Nino có liên quan với sự nóng lên của trái đất và là một bộ phận của biến đổi khí hậu toàn cầu.
Dấu hiệu đầu tiên để nhận biết El Nino sắp xuất hiện là nhiệt độ mặt nước biển Thái Bình Dương nóng lên. Trong giai đoạn từ 1950 – 2000 người ta sẽ quan sát được 14 lần El Nino và 10 lần La Nina 1998- 2000 đi kèm ngay sau El Nino 1997 – 1998 là một La Nina dài nhất. Những năm xảy ra El Nino gần đây là 1925, 1930, 1941- 1942, 1972 – 1973, 1976 – 1977, 1982 – 1983, 1997 – 1998, trong đó El Nino cuối cùng được ghi nhận là El Nino mạnh nhất.
Bức tranh toàn cảnh về El Nino trong những năm gần đây biểu hiện sự giảm going bão, giáng thủy ở vùng lân cận Nam Mỹ, Đông Nam Á, Bắc Australia, gây hạn dị thường ở một số khu vực như Bắc Australia, Inđônêxia, Philippin. Trong khi đó, dải đất hoang mạc duyên hải Pêru và vùng núi Anđet lại mưa lớn gây ra nhiều thảm họa như lũ quét, trượt đất dữ dội: Bão nhiệt đới rất mạnh đổ bộ vào vùng Bắc Mỹ, vùng biển các bang miền Tây Mêhicô và nước Mỹ nóng lên, xuất hiện những trận mưa lũ vào lúc đáng lẽ nơi đây phải là mùa đông tuyết phủ. Tất cả những bất thường của thời tiết ấy đã gây nên nhiều hệ quả tai hại cho thiên nhiên môi trường nói chung và cho kinh tế xã hội nói riêng.
Theo những nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc tổng cục Khí tượng Thủy văn Việt Nam, trong thời kỳ El Nino, tần số bão đổ bộ vào Việt Nam giảm, mùa nóng dài hơn bình thường, nhiệt độ không khí (rõ rệt nhất là ở vùng phía Nam?) mùa mưa ngắn, bắt đầu chậm, kết thúc dơm, lượng mưa các tháng bắt đầu giảm, nhất là vùng Bắc Trung Bộ. Do vậy hạn hán nghiêm trọng xảy ra thường xuyên trong thời kỳ El Nino, gây hệ quả xấu cho các hệ sinh thái tự nhiên và tổn hại nghiêm trọng cho nền kinh tế. Chỉ tính riêng trong El Nino 1997- 1998, hạn hán đã gây thiệt hại cho nền kinh tế nước ta tới 5.000 tỷ đồng.
Du lịch là một ngành kinh doanh nhạy cảm với các biến đổi khí hậu thời tiết và hệ quả của nó. Trong thời kỳ El Nino, sự giảm số cơn bão đổ bộ vào Việt Nam, tăng số ngày nắng, giảm lượng mưa và thời gian mưa rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tăng nhu cầu du lịch, góp phần tăng khả năng thỏa mãn tâm lý khách trong khi đi du lịch. Trong khi đó, thời tiết quá nóng, tổn thất kinh tế do hạn hán, suy thoái môi trường do cạn kiệt tài nguyên nước sạch, suy thoái hệ tinh thái tự nhiên lại có thể làm những tác nhân tiêu cực tới quá trình kích cầu du lịch. Theo ông Bùi Xuân Thông, Tiến sĩ, Phó giám đốc trung tâm khí tượng thủy văn biển: “Hiện nay, Viện khí tượng thủy văn đang nghiên cứu sẽ nhanh chóng thông báo diễn biến của hiện tượng để các ngành nói chung và du lịch nói riêng nắm bắt và phòng chống kịp thời những biến động El Nino nhằm giảm bớt những thiệt hại đáng kể.
Hội chợ đầu tư APEC lần thứ hai.
Hội chợ đầu tư APEC lần thứ hai với chủ đề “ Đầu tư vào Châu Á – Thái Bình Dương, đầu tư vào tương lai” sẽ được tổ chức từ 6 – 15/6/2001 tại Yên Đài, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. 21 thành viên APEC sẽ tham gia hội chợ với 4 nội dung chính: Hội thảo về chính sách đầu tư, diễn đàn các cấp các nhà doanh nghiệp APEC , đàm phán về hợp tác đầu tư, triển lãm nhằm giới thiệu môi trường, chính sách và các hạng mục đầu tư. Đoàn Việt Nam dự hội chợ đầu tư APEC gồm các đại diện Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ thương mại, tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Quảng Ninh và sở Công nghiệp Hà Nội.
Hoàng Thu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001