Đồ gỗ xuất biên – tài nguyên chảy máu

Nghe danh đã lâu, nhưng bây giờ tôi mới chứng kiến những gì đang diễn ra hàng ngày tại cửa khẩu Tân Thanh – Pò Chài. Đầu năm 1999, Chính phủ cho phép xây dựng khu kinh tế mở Đồng Đăng – Tân Thanh, tuy chưa phải là một cửa khẩu quốc gia lớn nhưng hiện nay Tân Thanh đang là nơi xuất khẩu nhộn nhịp nhất nhì của tỉnh Lạng Sơn.
Hàng hóa Trung Quốc qua cửa khẩu Tân Thanh vào nước ta khối lượng khá lớn, đủ loại từ hoa quả, vải vóc, quần áo may sẵn, xe đạp, đồ điện gia dụng đến hàng điện tử cao cấp…Hàng hóa Việt Nam xuất qua cũng không phải ít, nhưng có một mặt hàng của ta đang tràn ngập Trung tâm thương mại Pò Chài (Trung Quốc) là gỗ và đồ gỗ chạm khảm – thuộc mặt hàng Nhà nước cấm xuất khẩu – lại có mặt ở Trung tâm thương mại Pò Chài nhiều đến vậy ? Những tấm gỗ có kích thước 1,2m x 1,8m x 0,2m thuộc loại tứ thiết nặng hàng tạ phải do phương tiện vận tải mới đưa qua được biên giới. Còn đồ gỗ chạm khảm kiểu giả cổ bày la liệt phần lớn đều có nguồn gốc từ làng Đồng Kỵ (huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Những bộ bàn ghế kiểu Á – u mặt đá khảm trai, chạm trổ long – ly – quy – phượng, tượng Phật to nhỏ đủ loại, rồi hoành phi, câu đối… Thử hỏi đường dây nào đủ mạnh để có thể vượt qua hàng rào pháp luật đưa một khối lượng lớn gỗ quý sản phẩm đồ gỗ chạm khảm qua bên kia biên giới ? Ai được, ai mất ở đây ? Có lẽ cái được của chúng ta quá nhỏ so với cái mất bởi tài nguyên rừng ngày một cạn kiệt, công sức và trí tuệ của người lao động kết tinh trong sản phẩm được bán với giá quá bèo bọt.
Qua khảo sát tìm hiểu, giá một bộ Salon kiểu Á – u từ Đồng Kỵ xuất thô sang Trung Quốc từ 250 – 300 USD. Mức giá này so với thu nhập bình quân của người Việt Nam có thể khá cao, nhưng lại quá thấp so với thế giới. Đồ gỗ chạm khảm cổ được làm thô ở Đồng Kỵ, sau đó qua tay một số lái buôn thuộc các đường dây buôn lậu chuyển qua biên giới, về tập kết ở Trung tâm thương mại Pò Chài. Tại đây Việt Nam bắt đầu lắp ráp, đánh bóng, hoàn thiện sản phẩm trước lúc chuyển vào Bằng Tường đi Bắc Kinh, Thượng Hải, Hồng Kông và nhiều nơi khác. Cũng là mặt hàng gỗ được sản xuất ở Đồng Kỵ nhưng sang Pò Chải chỉ cần gia công thêm tí chút, đưa đến Hồng Kông giá trị được nhân lên 4 – 5 lần. Thế mới biết trong cuộc cạnh tranh trên thương trường ai được – ai mất !
Một câu hỏi đặt ra là tại sao Nhà nước không quản lý được các mặt hàng xuất khẩu của các làng nghề truyền thống như Đồng Kỵ, mà để lái buôn thâu tóm việc xuất khẩu hiện nay ở đây. Về thực chất của tình trạng này là tài nguyên đất nước bị tàn phá. Nếu chúng ta đứng ra tổ chức tốt sẽ mang lại một nguồn thu khá lớn cho ngân sách Nhà nước và người lao động cũng đỡ thiệt thòi. Hiện nay ở khu Trung tâm thương mại Pò Chài còn khá đông thợ Việt Nam, trong đó có những nghệ nhân của một số làng nghề truyền thống được huy động sang làm việc ở đây, dưới sự chỉ đạo của các kỹ thuật viên Trung Quốc. Như vậy hóa ra những bàn tay vàng trong các làng nghề truyền thống của nước ta lại đang tha hương kiếm sống nơi đất khách quê người.
Bình Nam – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Người phụ nữ Việt duy nhất thời xưa được theo chồng xuất ngoại

Nhữ Đình Hiền, người làng Hoạch Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, nay là xã Thái Học, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương, chưa rõ năm sinh năm mất, chỉ biết ông đậu tiến sĩ năm Canh Thân – 1680 dưới thời Lê – Trịnh (Lê Hy Tông – Trịnh Tạc). Nhữ Đình Hiền là ông quan sáng suốt, có tài kinh bang tế thế. Năm Mậu Dần 1698, ông được cử đi sứ Trung Quốc, đặc cách cho phu nhân là Lý Thị Hiệu cùng đi. Luật lệ của ta và Trung Quốc thời ấy không cho phép phụ nữ tham gia sứ đoàn, chắc hẳn nhà vua nhận thấy ở bà có những năng lực đặc biệt; đây cũng là trường hợp duy nhất trong lịch sử ngoại giao của Việt Nam thời phong kiến.
Trong thời gian ở Trung Quốc, ngoài công vụ, phu nhân chỉ quan tâm đến phương pháp chế tạo lượt của xứ người, bà dò đến những nơi có nghề làm lược truyền thống, quan sát, tìm hiểu và hỏi han cặn kẽ về cách làm. Khi về nước, phu nhân cùng chồng đem những kiến thức thu lượm được từ phương Bắc, phổ biến rộng rãi cho bà con dân làng; phu nhân còn trích khoản thu nhập hoa lợi của 12 mẫu ruộng vua ban để đầu tư vốn, lập ra phường thợ Diên Lộc; từ đó, nghề làm lược ở đây bắt đầu phát triển và được coi là nơi sản xuất lượt đầu tiên ở nước ta.
Sau khi Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền và phu nhân mất, dân phường Diên Lộc và làng Hoạch Trạch lập đền thờ, tôn ông bà là thánh sư nghề lược. Văn tế thánh có câu: “Bắc sư dĩ đoan, hưng thành nghệ thủ”, nghĩa là: “Khơi mối từ lần sang sứ Trung Quốc, gây dựng nghề cho dân”.
Không phải ông
Có tiếng một phụ nữ:
-Cứu tôi với ! Cứu tôi với !
Người ta trông thấy một cô gái trẻ ở lưng chừng núi, hai tay bám vào gốc cây, một bàn chân bấu víu vào đá còn chân kia buông thõng. Một ông trong đoàn đi du lịch vội vàng leo lên, chợt nghe tiếng cô ta:
-Không, không phải ông. Tôi gọi cái anh Việt Kiều khoác cái sắc kia cơ !
-!!!
Chẳng hơn gì
Sau khi sếp đi du lịch với cô thư ký ít ngày. Lúc về một người bạn của sếp hỏi:
-Anh thấy cô thư ký mới tuyển ấy thế nào?
-Cũng thế cả. Chả hơn gì vợ mình.
– ?!
Giúp bạn khỏe đẹp khi đeo kính
Để khuôn mặt đẹp hơn thì đeo kính bạn nên biết những nguyên tắc cơ bản. Thứ nhất nên tạo được sự tương phản giữa kính và mặt. Với kính thì gọng là phần cơ bản tạo hình dạng. Nếu bạn có khuôn mặt trái xoan thì gần như kiểu kính nào cũng phù hợp. Nếu có gương mặt tròn thì nên chọn gọng kính hình vuông hoặc hình chữ nhật, nó sẽ giúp bạn có khuôn mặt thanh tao hơn. Còn nữa, bạn nên mua kính có gọng hình bầu dục hoặc hình chữ nhật uốn tròn cho khuôn mặt tam giác.
Ngoài ra, nên quan tâm đến màu tóc, độ sáng của da, sống mũi cao hay dẹt. Người châu Á tóc đen nên phối hợp với gọng làm bằng kim loại ánh bạc.
Bức ảnh 7 con chim ruồi đạt giải thưởng
Nhà nhiếp ảnh người Anh tên là Peter Blackwell vừa nhận được một giải thưởng quốc tế nhiếp ảnh với đề tài “Đời sống hoang dã của loài chim ruồi” tại công viên thiên nhiên Masai Mara ở Kenya. Bức ảnh không những rất đạt về mặt nghệ thuật mà còn chứng tỏ một sự kiên trì rình rập của tác giả, đã nắm bắt cơ hội kịp thời để bấm máy vào một thời điểm tốt nhất. Ảnh được trưng bày tại cuộc triển lãm EXPO, Zurich, Thụy Sĩ được ban tổ chức xếp hạng nhất.
Ngô Hữu Đoàn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

“Bí quyết của nhà hàng là kiên trì, luôn cải tiến cách phục vụ”

Vừa qua, Tuần Du lịch đã có cuộc gặp gỡ và trao đổi cùng với bà Trương Ngọc Sương giám đốc nhà hàng Ngọc Gia Trang – một đơn vị được xem là làm ăn khấm khá nhất Thành phố Mỹ Tho.
Phóng viên: Nhà hàng Ngọc Gia Trang là một trong những đơn vị phục vụ ẩm thực nổi tiếng nhất tỉnh Tiền Giang, không những là điểm hẹn của thực khách địa phương mà kể cả khách quốc tế cũng không thiếu trong sổ tay, chị có thể cho bạn đọc biết đôi nét về nhà hàng Ngọc Gia Trang?
Giám đốc Trương Ngọc Sương: Tuy không phải là đơn vị trực thuộc nhưng bản thân luôn xem đơn vị mình là một thành viên của ngành du lịch Việt Nam, nay được quý báo ngành quan tâm, trước tiên tôi xin bỏ lòng cảm ơn và kính chúc sức khỏe quý anh chị trong ngành.
Nhà hàng Ngọc Gia Trang chúng tôi ra mắt thực khách vào đầu quí 4 năm 1993. Tổng diện tích sử dụng khoảng 4 ha. Tiền thân của khu nhà hàng này là mảnh vườn trồng cây ăn trái được chuyển sang thành lập khu nhà hàng, trên tinh thần cá nhân say mê nghề nghiệp, hơn nữa, theo tôi xét nếu về vị thế và thế đứng mảnh vườn có thể thu được lợi nhuận hàng năm, nhưng để xây dựng nhà hàng kinh doanh ăn uống thì hợp lí và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn. Bởi lẽ, vị trí này nằm giữa khoảng đường chính tiếp giáp với đường Ấp Bắc từ ngã tư ba Trung Lương vào Thành phố Mỹ Tho rất tiện trong giao thông và dễ tạo sự chú ý cho du khách. Từ những thực trạng trên chúng tôi quyết định xây dựng nhà hàng kinh doanh phục vụ ẩm thực. Về cấu trúc thiết kế xây dựng nhà hàng chúng tôi dựa vào cảnh quan mà hình thành. Vật liệu chủ yếu là cây lá. Tóm lại du khách đến nhà hàng Ngọc Gia Trang sẽ cảm nhận ngay chất miệt vườn Nam bộ được thể hiện qua khâu kiến trúc mang dáng vẻ đậm đà màu sắc dân tộc của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Những thành quả đạt được trong quá trình kinh doanh của nhà hàng Ngọc Gia Trang đến nay, thật ra chúng tôi chẳng áp dụng kế sách gì gọi là bí mật. Theo bất cứ một đơn vị kinh doanh nào “vạn sự khởi đầu nan” không sao tránh khỏi những khó khăn. Riêng đơn vị chúng tôi cũng thế. Nhưng có điều thời điểm nhà hàng Ngọc Gia Trang ra mắt thực khách, có cái khó trong giai đoạn ban đầu là nhà hàng thời bấy giờ hoàn toàn là tiếp viên nam, trong khi các điểm ăn uống ở tỉnh toàn tiếp viên nữ vì vậy đối với thực khách ở mức độ nào đó trong phục vụ tạo cho họ sự lạ lẫm và ngỡ ngàng nếu không nói là không hài lòng. Giai đoạn này tất nhiên nói về mặt doanh thu nhà hàng ở con số âm. Tuy nhiên nhờ sự bám trụ kiên trì, luôn theo dõi thông tin cải tiến cách phục vụ, chú trọng cung – cầu, vì đây là khâu then chốt trong ngành ăn uống… Đến đầu năm 1994, được sự trợ giúp của ban, ngành, lãnh đạo địa phương, cùng với công Exotissimo của người Pháp đưa khách đến. Nhà hàng từ đó đi vào ổn định.
Phóng viên: Nhưng đâu chỉ có bấy nhiêu ?
Giám đốc Trương Ngọc Sương: Đúng vậy, thời gian này nhà hàng Ngọc Gia Trang về con số khách nội địa cũng tăng lên khá đông, đặc biệt là hàng năm nhà hàng đảm nhận hơn 300 tiệc cưới. Song điều đáng ghi nhận và vinh dự cho nhà hàng là thông qua các tour lữ hành nhiều công ty như: Công ty du lịch Việt Nam, Công ty du lịch Hòa Bình, Vidotour Tân Văn Lan, Văn Minh… hàng năm đã đưa khách quốc tế đến đây thưởng thức ẩm thực rất đông.
Năm 1995 lượng khách quốc tế 5.400 khách, năm 96 7.500 khách, năm 97: 8.800 khách, năm 98: 10.000 khách và 6 tháng đầu năm 99: 7000 khách bao gồm các nước Trung Quốc – Hồng Kông – Nhật Bản – Pháp – Anh – Mỹ – Hàn Quốc – Ấn Độ – Ma Rốc…
Phóng viên: Về hướng tới của nhà hàng Ngọc Gia Trang? Đặc biệt là chào đón chào năm du lịch thế giới 2000 tổ chức tại Việt Nam chị có chủ trương gì trong chương trình trên?
Giám đốc Trương Ngọc Sương: Đơn vị chúng tôi chỉ ở hàng “em út”, nhưng với chương trình trên chúng tôi cũng được phép góp một phần nhỏ trong bộ mặt du lịch của nước nhà thêm tươi sắc thể hiện qua những món ăn phong phú đặc trưng của Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời chúng tôi cho tiến hành cải cách xây dựng một số dịch vụ phục vụ quý khách quốc tế tham quan Tiền Giang nói chung, được vui chơi giải trí thưởng thức ẩm thực tại nhà hàng Ngọc Gia Trang nói riêng.
Phóng viên: Xin cảm ơn chị.
Nguyễn Ngọc Sơn – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Thành lập ban vì sự tiến bộ của phụ nữ của Tổng cục Du lịch

Đó là nội dung của quyết định số 201/1999/QĐ-TCDL do Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng ký ngày 2-7-1999. Theo đó, Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ (Ban) gồm 5 thành viên do Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Phú Đức làm Trưởng Ban. Ban có chức năng, nhiệm vụ: tham mưu cho Tổng cục trưởng về chủ trương, chính sách đối với phụ nữ trong ngành Du lịch; Chủ trì nghiên cứu, đề xuất kế hoạch, chương trình hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ ngành Du lịch theo chỉ đạo của Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam và hướng dẫn của các bộ, Ngành liên quan, trình Tổng cục trưởng phê duyệt để tổ chức thực hiện, Tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện luật pháp, chính sách đối với phụ nữ và kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2.000.
Ban hoạt động theo Quy chế do Tổng cục trưởng phê duyệt và được phép sử dụng con dấu của Tổng cục Du lịch, được cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện công tác như một tổ chức thuộc Cơ quan Tổng cục.
Chương trình phát triển nguồn nhân lực Mê Công
Thực hiện Dự án “Tăng cường thể chế cho hợp tác khu vực Mê Công”, nhóm công tác phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam cùng với chuyên gia tư vấn đã nghiên cứu xây dựng lên Quy trình hướng dẫn Phát triển nguồn nhân lực và Kế hoạch hành động phát triển nguồn nhân lực 1999-2001 trong khuôn khổ hợp tác Mê Công. Hai bản dự thảo này đã được hoàn chỉnh thông qua thảo luận, lấy ý kiến các Bộ, Ngành trong hội thảo quốc gia do Ủy ban sông Mê Công Việt Nam tổ chức tại Hà Nội từ 21-22/5/1999 và Hội thảo khu vực do Ban thư ký, Ủy Hội Mê Công tổ chức tại Siêm Riệp, Campuchia từ 16-19/6/1999.
Kế hoạch hành động phát triển nguồn nhân lực đã được Ủy Hội thông qua và Cơ quan hợp tác phát triển của Chính phủ Thụy Sĩ đã cam kết tiếp tục tài trợ cho dự án này. Việc thực hiện có thể bắt đầu từ tháng 10/1999 bao gồm:
Tu chỉnh, ban hành và đưa Quy trình hướng dẫn phát triển nguồn nhân lực vào áp dụng.
Nâng cao năng lực cho cán bộ phụ trách về phát triển nguồn nhân lực ở các Bộ, Ngành liên quan, hướng tới xây dựng đội ngũ chuyên gia về phát triển nguồn nhân lực (mỗi nước 5 người).
Thiết lập mạng lưới thông tin trên Internet về phát triển nguồn nhân lực cho khu vực; tạo tiền đề thiết lập mạng lưới hợp tác về phát triển nguồn nhân lực giữa các Bộ, Ngành với Hệ thống giáo dục và đào tạo quốc gia thông qua đào tạo chuyên gia về các chuyên ngành liên quan đến Mê Công.
Xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống cơ sở thông tin, dữ liệu quốc gia về phát triển nguồn nhân lực. Du lịch được xem là một trong những lĩnh vực quan trọng liên quan đến sông Mê Công. Tiến tới thực hiện 4 nội dung kế hoạch trong khuôn khổ hợp tác Mê Công nêu trên sẽ mang lại những lợi ích thiết thực cho ngành Du lịch cả nước trước mắt và lâu dài. Đặc biệt khi Quy trình hướng dẫn phát triển nguồn nhân lực được ban hành và đưa vào áp dụng sẽ căn bản nâng cao hiệu quả của công tác quản lý phát triển nguồn nhân lực cho Ngành du lịch.
Quảng Ngãi: thêm nhiều tour du lịch phục vụ giáo viên – học sinh trong dịp hè
Công ty du lịch Quảng Ngãi vừa có đợt khuyến mãi đặc biệt để phục vụ khách du lịch là học sinh, giáo viên trong kỳ nghỉ hè. Theo đó, Công ty sẽ giảm giá thành mở thêm nhiều tour du lịch nội địa để đưa khách du lịch là học sinh – giáo viên đi tham quan các danh lam thắng cảnh nổi tiếng trong nước như Hội An – Non Nước Huế – Động Phong Nha – Vịnh Hạ Long – Hà Nội – Đà Lạt – Thành phố Hồ Chí Minh v.v… Đội xe của Công ty cũng được đầu tư cải tiến, nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch.
V.T – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Nhưng ưu điểm của thực đơn châu Á

Béo phì là căn bệnh trở nên phổ biến ở phương tây, nguyên nhân gây bệnh trước hết là do dinh dưỡng, sau đó là thói quen thoải mái trong ăn uống. Trước tình hình phì nộn, xấu xí của cơ thể, hơn ai hết các cô gái tìm cách “siết” lại chế độ hàng ngày của mình đồng thời đi tìm một thực đơn hợp lý. Và không thực đơn nào ưu điểm hơn thực đơn châu Á.
Nghiên cứu hàng loạt thực đơn châu Á, các nhà dinh dưỡng học kết luận:
Thức ăn mà người dân ở châu lục này dùng khi vào cơ thể đốt cháy năng lượng rất nhanh nhờ các loại gia vị (như tiêu, gưng, ớt, tỏi… chúng có tác dụng đẩy nhanh quá trình tiêu hóa, những loại này thực đơn phương Tây rất ít dùng). Mỗi ngày phụ nữ châu Á tiếp nhận một lượng calori ít hơn phụ nữ châu u 1000 đơn vị.
Trong thực đơn của người châu Á, cơm là thành phần cơ bản (tỉ lệ đường glucô cao). Chính vì thế, người châu Á ít thèm ngọt, mà hạn chế ngọt là điều tốt.
Người châu Á ít thích ăn thịt, nếu ăn thịt họ có cách chế biến kèm nhiều gia vị chứ không ăn thịt đơn thuần như người phương Tây. Người châu Á quen dùng các loại đâu có lượng đạm cao để thay thịt như đậu nàng, đậu phụ, nó còn có tác dụng thải độc tố trong cơ thể.
Người châu Á rất thích ăn cá, vì thế trong người họ luôn có một lượng Iode dồi dào. Iode có tác dụng như chất vi lượng chống tạo mỡ và kích thích trao đổi chất thay vì uống các loại nước ngọt để giải khát, người châu Á dùng trà. Trà làm giảm lượng cholesterol, chống béo rất có tác dụng.
Trong thực đơn của người châu Á, lượng rau tươi bao giờ cũng nhiều nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể. Vì thế lượng mỡ dễ tiêu hóa, không tích lũy nhiều. Mỡ ít sẽ làm cho việc tiếp nhận dưỡng khí dễ và hình thành máu nhanh. Đó là nguyên nhân giải thích người châu Á có tỉ lệ tim mạch, bệnh não thấp hơn và đương nhiên trẻ lâu hơn người châu Âu
Minh Tâm-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Christian Andersen – đưa thần tiên đến với các em nhỏ

Người kể chuyện cổ tích nổi tiếng của xứ Đan Mạch đã quá quen thuộc với trẻ em Việt Nam cũng như trẻ em thế giới. Dưới ngòi bút phù thuỷ của ông, một cái lông chim, một mẩu vải hay chú lính bằng chì cũng được phả vào một linh hồn của thần tiên và huyền ảo như trong mơ.
Han Christian Andersen sinh năm 1805 tại Odense, Đan Mạch và mất năm 1875, sống gần trọn ba phần tư thế kỷ 19. Từ năm 1922, khi cuốn sách đầu tiên viết cho trẻ em của ông ra đời, trong năm mươi năm liên tục, ông đã đưa tâm hồn với sức tưởng tượng mạnh mẽ của mình tạo ra cho trẻ thơ một thế giới huyền ảo và đầy nhân ái của truyện cổ tích. Truyện kể của ông đã được dịch ra hơn 80 thứ tiếng trên thế giới và đã được dựng thành kịch, múa bale, phim ảnh và tác phẩm điêu khắc, hội hoạ.
Nhưng để có tài năng ấy, tâm hồn thơ mộng ấy, Andersen đã phải trải qua một cuộc đời gió bụi và lắm nỗi truân chuyên. Thời thơ ấu của cậu bé Andersen là cuộc bươn chải với bát cơm manh áo của một đứa trẻ nhà nghèo. Cho đến năm 14 tuổi, cậu trốn lên thủ đô Cophenhagen. Ở đây cậu vào làm công cho ông Jonas Collin, giám đốc của Nhà Hát Kịch Hoàng Gia và chính Collin đã trợ cấp cho cậu tiền để tiếp tục đi học. Chắc chắn những cảnh con nhà nghèo trong truyện cổ tích của Andersen không thiếu những cảnh khốn cùng cậu đã từng nếm trải hoặc mắt thấy tai nghe.
Năm 1922, Andersen đã cho in thơ, truyện kịch, nhưng mãi đến năm 1829, ông mới thực sự thành công với cuốn sách có tựa đề khá dài và kỳ cục: “Một cuộc đi bộ từ Kênh của Holmen đến điểm phía Đông của đảo Amager vào năm 1928 và 1829”, viết theo phong cách đức của văn hào E.T.A Hofmann. Tiểu thuyết đầu tay của ông Người ứng tác (1835 dịch ra tiếng Anh 1845) đã được giới phê bình khen ngợi nhiệt liệt. Cũng trong năm đó cuốn sách thần tiên đầu tiên của ông viết cho trẻ em ra đời.
Andersen cũng là một nhà du lịch đầy cảm hứng và say mê. Ông đã lần lượt đi du lịch Châu u, Châu Á và Châu Phi đồng thời tiếp tục viết tiểu thuyết, kịch và sách du ký. Nhưng thành quả đáng kể nhất của ông sau các chuyến du lịch chăm chỉ ấy là 150 truyện ngắn viết cho các em và chính chúng đã nâng ông lên thành một trong những nhà văn lớn nhất của thế giới. “Con vịt xấu xí” (1843) “Bộ quần áo mới của Hoàng Đế” (1837) “Hoàng Hậu tuyết” (1844) “Chiếc quần đỏ” (1845) v.v… là những tác phẩm không những làm say mê trẻ em mà còn cả nhiều thế hệ người lớn nữa.
Mỗi con người đều có tuổi thơ của mình. Dù tuổi thơ ấy vất vả, cực nhọc đến đâu chúng cũng luôn ánh lên những giấc mộng thần tiên. Đó là niềm hạnh phúc lớn lao nhất mà con trẻ được hưởng trước khi bước vào cuộc đời đầy sóng gió. Andersen, người thắp lên ánh sáng thần tiên ấy và chính ông đã đỡ đầu cho những giấc mơ của trẻ con.
Hương Linh – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Thác Giang Điền – điểm dã ngoại cuối tuần

Cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 60km về phía Bắc, thác Giang Điền thuộc xã Giang Điền huyện Thống Nhất – Đồng Nai. Theo quốc lộ 1 qua ngã ba Trị An khoảng chừng 2km, nhìn phía trái du khách sẽ thấy chợ Giang Điền, đối diện với phía phải trông xa chừng vài km khách sẽ thấy cổng của “Giáo xứ Giang Điền” và cạnh đó là một con đường đất đỏ, rẽ vào con đường này đi khoảng 2km nữa qua cầu Giang Điền bắc ngang qua dòng suối. Qua cầu đi khoảng 1km thì đến thác, có lẽ do nằm giữa những ruộng lúa xanh ngát, những nông trại bạt ngàn và màu mỡ của vùng đất Đồng Nai mà nó có tên gọi là thác Giang Điền. Vào mùa nắng dòng thác có màu bạc, chảy hiền hòa, mùa mưa nước có màu đục, chảy xiết, nước réo ầm ầm, tung bọt trắng xóa tạo nên một khoảng không gian mờ ảo, mông lung và đầy sức hấp dẫn.
Trước đây hai bên thác có nhiều cây to, rừng rậm, nhưng do sự di dân lập nghiệp mà con người đã chặt phá lập vườn, làm ruộng, nên hiện nay chỉ còn lại một số ít cây nhỏ, đa số hai bên thác tồn tại rừng ở dạng cây bụi nhỏ. Ngoài ra còn có nhiều loại hoa dại với đủ màu sắc: đỏ, vàng, tím….quyện lẫn với màu bạc của dòng thác, màu xanh của nương ngô và màu vàng của ruộng lúa tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp. Dưới chân thác là dòng suối chảy lượn lờ, ngoằn ngoèo tạo nên một khung cảnh nên thơ và ngoạn mục.
Trước đây thác Giang Điền ít được mọi người biết đến, chủ yếu là một số nhỏ những người dân ở nơi khác đến khu vực này định cư, phá rừng làm rẫy. Thấy dòng thác đẹp thì cũng chỉ để tắm. Nhưng vài năm trở lại đây, thác Giang Điền đã được nhiều người biết đến như là chỗ để thư giãn vào cuối tuần sau những ngày làm việc mệt nhọc, hoặc là những cuộc picnic, dã ngoại của các nhóm học sinh, sinh viên sau những ngày học hành căng thẳng, đến đây nhằm thư giãn đầu óc và tìm kiếm một không khí trong lành, thoáng đãng. Từ đây bạn có thể dõi theo những cánh cò trên các ruộng lúa lúc chiều dần buông. Mùa hè quý khách có thể ghé thăm thác Giang Điền, ngồi trên các hòn đá lớn nổi trên mặt nước để câu cá thì thật không gì thú bằng.
Từ khi thác được biết đến, các cư dân địa phương đã dựng lên các lều tranh, quán cóc để phục vụ cho du khách khi ghé thăm. Vào những ngày cuối tuần không khí ở đây thật là nhộn nhịp. Nằm ở các vị trí thuận lợi với một khoảng cách không xa Thành phố Hồ Chí Minh (khoảng 60km) quý khách có thể tự tổ chức cho nhóm của mình đi tour với thời gian đi về trong ngày, và đi bằng xe gắn máy là thích hợp nhất. Vì ở đây chưa được các công ty lữ hành, các công ty du lịch…biết đến do vậy chưa có tour trong chương trình của họ. Thác Giang Điền có thể hình thành một tiểu khu du lịch vì nó có nhiều cảnh đẹp, vị trí thuận lợi. Nhưng ở đây chưa được một đơn vị hay cá nhân nào đầu tư cả, nếu được đầu tư đúng mức và thích hợp thì Giang Điền có thể đem lại một nguồn lợi kinh tế lớn.
Linh My – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Hội đền Kiếp Bạc

Du khách khi về thăm khu di tích đền Kiếp Bạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương sẽ bắt gặp một quần thể sông núi trùng trùng điệp điệp, rất thơ mộng và cũng rất hùng vĩ. Kiếp Bạc đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa của Quốc gia, là một danh lam thắng cảnh hấp dẫn lòng khách du lịch trong và ngoài nước. Kiếp Bạc là nơi thờ vị anh hùng lớn của dân tộc ta Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người đã có công đánh tan giặc Mông, giành lại hòa bình cho dân tộc. Nhớ đến công ơn to lớn của Trần Hưng Đạo nhân dân đã lập đền thờ ông Trên nền Vương phủ (nay gọi là đền Kiếp Bạc).
Đền Kiếp Bạc được xây dựng trên khu đất bằng ở thung lũng núi Rồng, phía trên là những đổi núi uốn lượn theo hình thân Rồng, phía dưới là dòng nước trong xanh phẳng lặng trông rất đẹp. Khi đến Tam Quan, nhìn ra xa du khách cảm tưởng như một bức cuốn Thư “lưỡng long Triều nhật” trông rất hoành tráng bề thế, tạo một vẻ rất uy nghi, tráng lệ. Mặt trước Tam Quan có hai hàng chữ lớn:
“Giữ Thiên vô cực
Trần Hưng Đạo vương từ”. Dịch: “Sự nghiệp sống mãi với đất trời
Đền Trần Hưng Đạo Vương”.
Phía sau Tam Quan là một hàng chữ lớn sơn son thiếp vàng là “Vạn cổ Thư Giang Sơn” có nghĩa “Non nước vẫn ngàn Thu”.
Vào trong Tam Quan, sân đền được lát đá xanh mở ra một không gian thoáng đạt, rộng rãi, giữa sân đền có nhà Bạc là nơi lễ trình trước khi vào đền chính, và có giếng Rồng quanh năm nước trong vắt, tương truyền nước giếng thiêng này đã tiếp sức mạnh cho gia tướng Yết Kiêu đánh thắng giặc. Vào đền chính du khách phải làm lễ lần lượt từ, Tiền tế, Trung từ, Hậu cung. Khu đền này thiết kế theo kiểu chữ Đinh (J). Tiền tế là nơi khách tiến lễ trình còn Trung từ là nơi thờ bốn người con trai của Trần Hưng Đạo. Cuối cùng là đến Thượng điện (Hậu cung) là nơi thờ đức thánh Trần Hưng Đạo ở chính giữa, ngoài ra còn thờ 3 vị khác là: Hoàng Anh Nguyên quận chúa, Hoàng Thái Hậu Quyên Thanh công chúa, nguyên từ quốc mẫu Thiên Thành Công (phu nhân). Tất cả các tượng đồng này đều đặt trong khám lớn, sơn son thiếp vàng và chạm long, ly, qui phượng, tùng, cúc, trúc, mai mềm mại biến hóa trông rất sinh động, ngoài ra trong đền còn có các đồ thờ hoàng phi câu đối, đại tự, long xà, bát điểu, sắc phong của các triều đại càng tôn thêm vẻ uy nghi, thành kính. Bên cạnh khu di tích Kiếp Bạc, còn có một số khu di tích khác liên quan đến lịch sử như Sinh Từ, Viên Lăng, Cồn Kiếp, Hang Tiền, Hang Cung…
“Tháng 8 hội cha – Tháng ba hội mẹ”
Bên cạnh lễ hội còn có hội đền tế, lễ dâng hương tưởng niệm, hội chợ và các trò chơi dân gian góp vui làm tăng thêm không khí vui tươi, náo nhiệt cho lễ hội.
Nguyễn Phúc Anh – Tuần Du Lịch – Số 38(90) Từ 20-27/9/1999

Chùa Khải Đoan – công trình của vợ vua Khải Định

Chùa Khải Đoan (còn gọi là Khải Đoan Tự) nằm trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắc Lắk). Tên “Chùa Khải Đoan” được ghép bởi 2 từ đầu của Vua Khải Định và vợ ông là Đoan Huy Hoàng Thái Hậu.
Chùa Khải Đoan bắt đầu xây dựng từ năm 1951 với 2 phần Hậu tổ và nhà giảng, còn chánh điện thì đến năm 1953 mới khởi công. Người có công xây dựng chùa này là Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (vợ vua Khải Định) và chính bà đã đặt tên là “Khải Đoan Tự”. Chùa được xây dựng bởi bàn tay khéo léo của những người thợ cố đô Huế nên kiến trúc nhà rường Huế xen lẫn với kiến trúc địa phương, thắm đượm tình đoàn kết Kinh – Thượng. Cổng chính theo hướng Tây Nam nhìn ra đường Quang Trung, hướng về thung lũng “Suối đốc học” của phường Tân Tiến. Chánh điện là công trình chính của chùa với mặt bằng 320 mét vuông được chia làm 2 phần. Nửa phần trước mang dáng dấp nhà dài Tây Nguyên nhưng cấu trúc cột kèo theo kiểu nhà rường Huế. Nửa sau được xây theo lối hiện đại. Đáng chú ý nhất trong Chánh điện là tượng Phật Thích Ca ở giữa và chiếc chuông đồng đặt ở gian bên phải. Tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao 1,1m, đài sen bằng gỗ cao 0,35 m được trang trí công phu. Chiếc chuông đồng cao 1,15m, chu vi đáy 2,5m, nặng 380 kg được đúc tháng 1/1954 (tức tháng Chạp năm Quý Tỵ).
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước chùa Khải Đoan là nơi có phong trào Phật giáo yêu nước đấu tranh đòi hòa bình thống nhất Tổ quốc, Chùa còn là nơi đùm bọc, che chở cho nhiều quần chúng cách mạng hoạt động. Chùa Khải Đoan chính là nơi nổ ra các cuộc đấu tranh chính trị góp phần quan trọng vào phong trào cách mạng của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Tháng 9/1959 gần 7.000 phật tử đã tổ chức một cuộc biểu tình tại chùa Khải Đoàn đòi Ngô Đình Diệm phải thi hành Hiệp định Giơ-Ne-Vơ. Tháng 7/1963, Đại Đức Thích Quảng Hương (chánh đại diện Phật giáo Đắk Lắk kiêm trụ trì Khải Đoan) phát nguyện tự thiêu đúng vào lúc phái đoàn quốc tế đến thị sát tình hình, làm cho cuộc đấu tranh của Phật giáo Đắk Lắk bùng lên quyết liệt. Sáng 30/1/1968 (tức mồng một Tết Mậu Thân) gần 7.000 quần chúng thị xã Buôn Ma Thuột tập trung tại chùa Khải Đoan nghe tuyên truyền về chính sách Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam sau đó tuần hành trên đường phố.
Cùng với Biệt điện Bảo Đại, Đình Lạc Giao, nhà tù Buôn Ma Thuộc, chùa Khải Đoan là một điểm tham quan du lịch hấp dẫn đồng thời cũng là di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Đắk Lắk và của thành phố Buôn Ma Thuột.
Nguyễn Thanh Linh-Tuần Du Lịch-Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Ông Hoàng mắc bệnh đồng tính

Trong triều đình nước Đức thời Guillaume II ( 1888 – 1918) đã xảy ra nhiều vụ bê bối về đồng tính luyến ái. Tờ Zukunft ( Tương lai), một tờ báo có ảnh hưởng lớn ở Berlin bấy giờ đã mạnh mẽ lên tiếng công kích bọn đình thần chóp bu đang hăm hở lao vào thú vui đồi truỵ này. Để bảo vệ quyền lợi và danh dự, bọn chúng đã tập hợp thành phe đảng gồm toàn những kẻ có thế lực nhằm tạo ra thứ triều đình vô hình để bao vây hoàng đế.
Chủ bút tờ Zukuft lúc ấy là Maximilien Harden (1861 – 1972) đã dũng cảm mở chiến dịch báo chí, thẳng tay lên án bọn chúng, chủ yếu tấn công chĩa vào hoàng thân Philippe Eulenbourg (1847 – 1921) từng giữ chức đại diện phổ tại Munich, đại sứ Đức ở Vienne và rất được Hoàng đế Guillaume II sùng ái.
Chính Vol Holstein cố vấn của hoàng đế đã cung cấp cho tòa soạn nhật báo Zukunft tập hồ sơ quan trọng về bọn đồng tính luyến ái trong cung đình mà hoàng thân Eulenbourg là thủ phạm số 1. Trong tập tài liệu tối mật ấy có một chi tiết hết sức quan trọng tố cáo hoàng thân không chỉ thích thú thỏa mãn với người cùng giới (homosexul) mà còn mắc tính thú dâm nghĩa là giao cấu với thú vật. Chủ bút Harden lập tức công bố nguồn tin quan trọng ấy trên tờ Zukunft, song vì thiếu chứng cứ, bị Eulenbourg đâm đơn kiện về tội vu khống, và Harden liền bị toà Berlin kết án bốn tháng tù. Mãn hạn tù, chủ bút nhật báo Zukunft quả quyết chân lý ở phía ông nên tiếp tục lao đơn tố cáo hoàng thân Eulenbourg tại tòa án Munich.
Rất may, lần này Harden có tới hai nhân chứng sống: một chàng trai làm nghề bán sữa ở Haute Baviere khai trước tòa rằng khi anh làm nghề chèo thuyền trên hồ Stamberg, chính vị này – chỉ hoàng thân Eulenbourg đã chìa ra trước mặt anh món tiền khổng lồ 1.500 mác với điều kiện để ông thỏa mãn những sở thích riêng. Sau đó ông còn mời anh về phòng riêng tại lâu đài, tiếp đãi rất chu đáo. Nhân chứng thứ hai là một ngư phủ trẻ cũng kiếm sống trên hồ ấy, anh này cũng thuật lại tỉ mỉ mọi hành vi giao tiếp và thù lao hậu hĩnh nhận được của chính ông Hoàng này.
Trước những bằng chứng rành rành, Hoàng thân Eulenbourg chỉ còn biết cúi đầu nhận tội, nhưng vì tình trạng sức khỏe của bị can nên việc xét xử chưa thể kết thúc. Dù sao ông vẫn bị dư luận đức lên án với hai tội danh: vi phạm đạo lý và cố ý che giấu bào chữa tội lỗi trong lần xử chính thức vào năm 1907, Hoàng thân Eulenbourg, vị đình thần khả kính nhiều thế lực của triều đình đức đã bị thu hồi mọi quyền bính, chức tước và đuổi thẳng về quê.
Mãn Đông – Tuần Du lịch – Số 37(89) – 13 -20/9/1999