Mênh mang sông nước thuận tình – Phần 2

Buổi chiều, Thuận Tình càng lung linh, huyền ảo hơn với những con thuyền rẽ dòng về bến đậu. Trong ánh tà dương, rừng dừa tím thẫm được điểm thêm những cánh cò trắng cuối ngày. Gió vẫn rì rào qua từng kẽ lá. Mặt sông ánh bạc. Những chàng trai cô gái lúc này từ phía bên kia sông mới chèo thuyền sang sông. Tiếng hú gọi đò trong đêm hòa lẫn tiếng ếch kêu trong hoang vắng gợi lại không khí của cuộc sống làng quê bình yên ngày xưa. Những chiếc đèn lồng trong nhà đón tiếp vừa không đủ sáng, lại vừa đủ cho cảnh lung linh, huyền ảo. Một tách cà phê hay một bình trà nóng lúc này quả là một thú thanh tao. Dọc theo bờ sông, dưới tán rừng phi lao, những túp lều lá dừa dựng tạm, vài chiếc ghế ngả lưng hóng gió trong đêm trăng là những phút giây thư giãn quý báu sau một ngày lao động mệt nhọc.
Còn muốn đi xa hơn về phía Tây, thuyền sẽ rẽ dòng đưa du khách đi giữa hai bờ sông rợp mát bóng dừa. Giữa trưa, một chiếc cầu tre bắc ngang qua sông như một nét điểm xuyến cho bức tranh sông nước thêm một phần hơi thở của cuộc sống. Cặp thuyền vào bờ, du khách thả bộ lên những vườn cau xanh mát, dưới chân là những vuông rau má, rau bồ ngót, rau dền xanh non. Bạn có thể sẽ được ăn tại vườn những quả sapôchê, thanh long mới hái hoặc mua về làm quà cho người thân. Hoặc có thể mua một mớ rau thập cẩm để lát nữa về lại nhà nghỉ, nhân viên phục vụ sẽ giúp bạn một bữa lẩu cá lóc, hay cá hấp cuộn rau sống, bánh tráng còn nóng hôi hổi.
Đặc sản ở Thuận Tình không nhiều nhưng đầy ấn tượng. Cá rô phi, tôm, cua, cá lóc có thể bắt ngay tại hồ trong khu du lịch. Những con cá rô phi bằng bàn tay đang giãy đành đạch, được làm sạch, chiên xù, cộng thêm gia vị, rau sống bánh tráng, 30.000đồng/kg cá chiên xù là một bữa giải mỏi cho năm ba người bạn với một chai rượu gạo cất thật tinh. Tôm cua ở đây vừa tươi, vừa sạch giá cả lại rất bình dân. Những gia đình năm ba người có thể thuê một nhà nghỉ 20.000đồng/ngày để được sống trong không khí ấm áp của gia đình với những bữa cơm dân dã do nhân viên ở đây phục vụ; món canh bằng đọt khoai lang nấu với tôm ăn vào cứ ngọt từ trên đầu lưỡi.
Thuận Tình thích hợp cho những sinh hoạt dã ngoại, cắm trại, hội họp bạn bè. Những ngôi nhà chờ trên sông, những bữa ăn ấm cúng, bình dân với cá tôm sông nước là những gì mà con người của phố thị ồn ào, náo nhiệt hôm nay đang mơ ước được tìm về. Một ngày nghỉ cuối tuần, một cuộc dã ngoại về với thiên nhiên là điều thật lý thú nếu đến với Thuận Tình. Nhiều du khách đến đây đã ghi lại lưu bút thật chân tình, cởi mở, đầy lưu luyến. Tuy mới khai trương chưa lâu nhưng khu du lịch sinh thái Thuận Tình đã bắt đầu thu hút sự chú ý của du khách. Những tốp sinh viên, nam nữ thanh niên tận Đà Nẵng cũng đã cất công đến với Thuận Tình. Khách du lịch nước ngoài sau khi xem phố cổ đã bắt đầu thả bước qua cầu về với những dòng sông, rặng dừa nước yên bình bên Cẩm Nang, Cẩm Thanh và rất thích thú khi được nghỉ ngơi ở đây. Khu du lịch sinh thái Thuận Tình đã khẳng định một hướng mở rộng không gian du lịch của Hội An có nhiều triển vọng. Tiềm năng du lịch sinh thái của Quảng Nam còn nhiều, nếu biết khai thác tốt sẽ mang lại hiệu quả tích cực cho sự phát triển của ngành du lịch địa phương. Khách du lịch đến với Hội An bây giờ đâu chỉ biết đến chùa Cầu, phố cổ mà còn được phiêu bồng trên những con thuyền tam bản trong những đêm trăng, với chiếc cần câu ngồi chờ bóng cá đớp động dưới mặt trăng sông sáng ngời ánh bạc, xa xa, gió trên sông vẫn rì rầm câu chuyện ngàn năm với phố Hoài.
Nguyễn Vân Thiêng – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Mênh mang sông nước thuận tình – Phần 1

Ý tưởng xây dựng Hội An thành một trung tâm du lịch của tỉnh Quảng Nam và miền Trung đã thôi thúc những người có trách nhiệm ở tỉnh Quảng Nam tìm tòi nhằm mở ra một hướng đi mới cho du lịch Hội An. Tháng 8/1998, Chủ tịch tỉnh Quảng Nam đã giao trách nhiệm này cho thị xã Hội An phối hợp với các ngành hữu quan xây dựng phương án để có thể mở rộng không gian du lịch cho thị xã Hội An. Làm sao du khách đến Hội An không chỉ có thăm phố cổ, hoài niệm về những giá trị văn hóa cổ xưa của một cảng thị sầm uất của miền Trung mà nếu có nhu cầu, sẽ được sống thanh thản, nghỉ ngơi thoải mái trong một môi trường du lịch hấp dẫn ? Tỉnh Quảng Nam xem đây là một hướng đi mang tính đột phá để vừa bảo tồn, phát huy các giá trị vô giá của đô thị cổ, vừa phát triển những nhân tố mới, mở rộng không gian du lịch, tạo thêm nhiều sản phẩm hấp dẫn du khách. Trung tuần tháng 6/1999, Hội An đưa khu du lịch sinh thái Thuận Tình vào khai thác với sự chứng kiến của đông đảo quan chức, các phóng viên báo chí Trung ương và địa phương như để chứng minh cho những nỗ lực của mình.
Khu du lịch sinh thái Thuận Tình – cái tên gợi nên một cái gì đó thật dễ chịu. Tôi hỏi một cụ cao niên, cụ nói: “Cồn này trước đây gọi là Cồn Kiện vì hồi đó, đây là cồn nổi tự nhiên dân Hội An và dân Duy Xuyên tranh giành nhau sản xuất, kéo nhau đi kiện hoài. Sau này chính quyền Cách mạng phân chia về xã Cẩm Thanh, thuộc thị xã Hội An, ai nấy lo làm ăn hòa thuận nên đặt tên là Thuận Tình”. Thì ra là vậy. Mà cũng thuận thật. Dòng sông Thu Bồn trước khi đổ ra Của Đại đã không quên chắt lọc phù sa bồi đắp lại nơi đây, lâu dần thành cồn nổi cao lên, dân quanh vùng thấy đất đai màu mỡ đã đến khai phá thành ruộng vườn trù phú. Cao thì trồng khoai trồng đậu, thấp thì dừa nước mọc um tùm làm nơi ẩn náu, sinh sôi cho tôm cá. Tự nhiên, nơi đây hình thành nên một vùng sinh thái ngập mặn với mênh mang sông nước chẳng khác gì sông rạch miền Tây Nam Bộ. Sớm chiều thủy triều lên xuống, dòng sông hiền hòa vẫn tuôn về biển lớn, để lại đây một mảng xanh non tự bao giờ điểm tô cho phố cổ bên kia con sông Hoài.
Với lợi thế như vậy, vài năm gần đây, thị xã Hội An đã đầu tư đắp đê ngăn mặn, giữ đất, tạo thành những hồ nuôi tôm, cua, cá, nước lợ giải quyết việc làm cho hàng chục gia đình ở đây. Dưới con mắt của những người làm du lịch, đây là địa điểm lý tưởng để xây dựng một khu nghỉ dưỡng theo kiểu du lịch sinh thái cho nhân dân quanh vùng và khách du lịch. Việc phát triển khu du lịch sinh thái Thuận Tình càng tô thêm vẻ đẹp hài hòa cho phố cổ Hội An trong mối quan hệ gắn kết giữa đô thị với diện mạo chung của làng quê, môi trường sinh thái, những sinh hoạt lao động sản xuất, vui chơi giải trí, các lễ hội, phong tục tập quán của cộng đồng dân cư…
Từ phố cổ Hội An, sau khi xem phố cổ, xuống bến Bạch Đằng, theo thuyền đi trên sông thả tầm mắt chiêm ngưỡng những xóm làng trù phú, những bãi ngô non hay những giàn rớ trên sông phơi mình dưới nắng vàng là một điều lý thú với du khách. Chừng 30 phút, thuyền ghé vào bến Thuận Tình hiện ra như một khu rừng bạt ngàn dừa nước xanh ngắt một màu. Những ngôi nhà làm bằng gỗ với rui, mè toàn bằng dừa nước gợi lên một khung cảnh chân quê, giản dị. Nếu thích, bạn sẽ được đi thuyền tam bản len lỏi trong rừng dừa nước xem cá bơi lội, xem hoa và quả dừa nước, thả cần câu cá ngay trong hồ để lát nữa có thể nhờ nhà bếp chế biến làm món dưa cay.
Nguyễn Vân Thiêng – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Xuất xứ Nghề Tây ở nước ta

Năm 1984 nhà Nguyễn ký hòa ước Paten – nô tre công nhận quyền đô hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam. Từ đó, những phố Tây, cơ sở sản xuất cửa hiệu… của Pháp cũng bắt đầu xuất hiện một số ngành nghề mới du nhập vào nước ta. Trong đó có một số ngành nghề giao thông vận tải:
Nghề làm xe tay:
Thời trước các quan nước ta thường đi ngựa, đi võng hay cảng. Sau đó Đốc lý Bonnal mua được ở bên Nhật hai cái xe tay, một biểu quan Tổng đốc, một để dùng.
Về sau năm 1884ông tham tá nhà Đoan (thuế vụ ) là Ulysse Leneveu dù đã hưu trí nhưng không về cố hương mà ở lại Hà Nội để kinh doanh. Ông này sang Hồng K – ông mua được 6 chiếc xe tay, vừa để cho thuê vừa mướn thợ Việt Nam sản xuất thêm. Đến ngày 24/3/1887 đã có hơn 100 chiếc để cho thuê. Từ đó, người Việt Nam đã làm xe cho ông Ulysse Leneveu cũng bắt đầu sản xuất loại xe này. Hầu hết xe tay dùng bánh xe cao su. Người lính kéo xe thường mặc áo “kẹp nẹp”, đầu đội nón gù, đi chân không. Năm 1932, nhà báo Tam Lang (Vũ Đình Chí) viết tập phóng sự “Tôi kéo xe” mở đầu cho thể loại phóng sự ở nước ta.
Nghề làm xe ngựa:
Thấy trong thành phố chỉ có xe tay do cu – li kéo, chỉ đi gần chứ không đi xa được, ông Montaignac (một tham tá nhà Đoan về hươu khác) bắt chước làm kiểu xe ngựa như bên Nhật. xe này to hơn xe kéo tay, có thể chứa được 4, 5 người do ngựa kéo để cho thuê.
Sau này người Việt Nam làm và gọi là xe song mã hay độc mã. Ở trong Nam cũng có xe ngựa, gọi là xe “thổ mộ” (gọi như vậy vì mui xe giống như cái mả). Khách phong lưu thì đi xe kiểng tức xe đóng bít bùng, ở cánh cửa có gắn kính cho có ánh sáng. Sau này, còn có “xe tờ” là xe xó 4 bánh giát sắt dùng chở công văn, tờ trát của nhà đương cục.
Xe điện:
Năm 1885, binh lính Pháp ở Hà Nội đã tăng lên rất đông. Muốn thuận tiện cho việc đi lại, nhà binh cho đóng một ít toa giống như xe điện bên Pháp và đặt đường ray trong mấy phố lớn cho 3 con lừa kéo.
Mỗi ngày xe chạy đi chạy lại chạy về ba lần, chỉ trừ chủ nhật chạy 4 lần qua các phố France, Thợ Khảm, Trường Thi, Nhà Chung, Hàng Bông và Hàng Gai rồi về thẳng trong thành Hoàng Diệu.
Sau này chính quyền Pháp cho lập sở máy điện xe mới bắt đầu chạy bằng điện đến thập niên 1930.
Câu đối Tết
Chào Thiên kỷ mới: Mừng Đảng, mừng Dân, Mừng non sông khởi sắc!
Đón Kỷ nguyên hồng: Vui Xuân, vui Tết, Vui đất nước chuyển mình!
Nguyễn Văn Long – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Niềm tự hào của hai tỉnh Bến Tre – Cần Thơ

Nhà thơ yêu nước Cử nhân Phan Văn Trị được xếp sau cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu về khí phách của Nhà Nho đỗ đạt nhưng không làm quan mà về quê dạy học, bốc thuốc phục vụ nhân dân. Các cụ đã dùng vũ khí sắc bén của mình là thơ văn để bày tỏ lòng yêu nước trước cảnh nước nhà bị ngoại xâm và chống đối vua quan triều Nguyễn…”Địa linh” Bến Tre sản sinh ra nhà yêu nước Phan Văn Trị (xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, giáp huyện Ba Tri, nơi chôn cất cụ Nguyễn Đình Chiểu). Cụ Phan Văn Trị mất và được yên nghỉ ở xã Nhơn Ái, huyện Châu Thành tỉnh Cần Thơ. Bắt nguồn từ đó hai huyện Giồng Trôm với những vườn dừa bạt ngàn kết nghĩa với huyện Châu Thành cam quýt xum xuê và hai trường Phổ thông trung học Phan Văn Trị (Giồng Trôm) và Phổ thông trung học Phan Văn Trị (Châu Thành) cũng xem nhau như anh em ruột thịt !
Mối tình ấy bắt nguồn từ năm 1990 và hai huyện đã đến thăm và làm việc với nhau vào năm 1992, từ đó đến nay mối quan hệ ngày càng thêm đậm đà hơn.
Kể từ hôm nay, trên quê hương Đồng Khởi có thêm một điểm tham quan mới: Nhà tưởng niệm cụ Phan Văn Trị. Ai có dịp về thăm mộ cụ Nguyễn Đình Chiểu, trên đường đi xin dành chút thời gian ghé lại nơi đây vừa tham quan và thắp nén nhang để tỏ lòng biết ơn Người đã có công trong sự nghiệp thơ văn, đã đóng góp công sức vào việc giữ gìn bờ cõi.
Hỏi đáp: Về phần quản lý vốn của Nhà nước ở các doanh nghiệp
Hỏi: Thế nào là cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt ? Quản lý cổ phần chi phối và cổ phần đặc biệt của Nhà nước ?
Đáp: Cổ phần chi phối của Nhà nước là các loại cổ phần đáp ứng một trong hai điều kiện sau: Cổ phần của Nhà nước chiếm trên 50% tổng số cổ phần của doanh nghiệp hoặc cổ phần của Nhà nước ít nhất gấp hai lần cổ phần của cổ đông lớn nhất khác trong doanh nghiệp. Cổ phần đặc biệt của Nhà nước là cổ phần của Nhà nước trong một số doanh nghiệp mà Nhà nước không có cổ phần chi phối, nhưng có quyền quyết định một số vấn đề quan trọng của doanh nghiệp ghi trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp.
Chính phủ thực hiện quyền sở hữu cổ phần chi phối và cổ phần đặc biệt của Nhà nước trong một số doanh nghiệp quan trọng nhằm hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện định hướng của Nhà nước. Người đại diện sở hữu các cổ phần nói trên có quyền hạn và nghĩa vụ: Cử, bãi miễn, khen thưởng, kỷ luật người trực tiếp quản lý các loại cổ phần đó ở doanh nghiệp; giao nhiệm vụ hằng năm và phê duyệt phương hướng mục tiêu, biện pháp sử dụng quyền của cổ phần chi phối và cổ phần đặc biệt cho người trực tiếp quản lý các loại cổ phần này; theo dõi, giám sát việc sử dụng cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của Nhà nước, chịu trách nhiệm về sử dụng những loại cổ phần đó để định hướng doanh nghiệp phục vụ mục tiêu của Nhà nước.
Người trực tiếp quản lý cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của Nhà nước cùng với quyền hạn và nghĩa vụ của người trực tiếp quản lý phần vốn góp của Nhà nước ở các doanh nghiệp còn có quyền hạn và nghĩa vụ: Xây dựng phương hướng và biện pháp trình người đại diện chủ sử hữu cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của Nhà nước về việc sử dụng các loại cổ phần này để định hướng doanh nghiệp phục vụ mục tiêu của Nhà nước; tham gia quyết định biện pháp quản lý, điều hành của doanh nghiệp theo hướng sử dụng cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của Nhà nước đã được người đại diện chủ sở hữu các loại cổ phần này phê duyệt; thực hiện chế độ báo cáo và chịu trách nhiệm trước người đại diện chủ sở hữu cổ phần chi phối và cổ phần đặc biệt của Nhà nước.
B.T.T – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Thác Dray-Sap (Đắk Lắk) – sự hùng vĩ của thiên nhiên

Từ thành phố Buồn Ma Thuột về hướng thành phố Hồ Chí Minh khoảng 20km đến thị trấn Eat-ling, rẽ trái men theo con đường nhỏ vào khoảng 8km nữa là tới thác Dray-Sap.
Từ sườn núi nơi ta dừng xe, đi dọc theo con đường len lỏi giữa rừng cây, một bên là những cây kơ-nia cao vút, một bên là vách đá cheo leo rong rêu bao phủ, vết tích còn lại của những mùa nước lên và bên dưới là dòng suối trong vắt lặng lờ lượn quanh những tảng đá. Đến đây ta nghe như có tiếng ì ầm của thác đổ, thêm vài bước nữa là những trụ nước trắng xóa đổ xuống từ trên cao tạo nên những giọt nước li ti bay xa hàng trăm mét, đưa đến cho ta cảm giác mát lạnh và khung cảnh xung quanh như buổi hoàng hôn, mặc dù du khách đến thác vào lúc giữa trưa. Đó cũng là lí do tại sao thác này được đặt lên là “Dray-Sap” theo phiên âm của người dân bản địa có nghĩa là “Thác khói”.
Chỉ cần bước thêm vài bước nữa là ngọn thác hùng vĩ vào bậc nhất nước hiện ra trước mắt bạn. Từ trên độ cao 15m, ngọn thác dội xuống bên dưới những ngọn nước trắng xóa tạo nên âm thanh trầm hùng, vang vọng cả núi rừng Tây Nguyên. Và bên dưới ngọn thác, dòng nước như sục sôi, cuồn cuộn, tung lên…Thêm vào đó, nguồn đất đỏ bazan hòa trộn vào tạo nên dòng thác có màu nước đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên.
Hơn lúc nào hết, bạn có thể cảm nhận sự hùng vĩ của thiên nhiên khi đối diện với thác Dray-Sap, đây là nơi ý tưởng cho các bạn trong dịp hè này.
Cháo lươn Thành Vinh
Cháo có nhiều loại: cháo gà, cháo xương, cháo cá, cháo lươn….Và mỗi loại có một hương vị đậm đà khác nhau, nhưng cháo lương Thành Vinh có thể nói là hấp dẫn, mang sắc thái riêng của xứ Nghệ. Các cụ ở Nghệ An kể rằng: “Cách đây mấy chục năm lương y Trần Văn Lản ở Thanh Chương bị bệnh đau lưng và ăn vào khó tiêu, ông thèm một bát cháo hành hoa và cháo lươn. Anh Trần Văn Minh, con trai ông chiều theo ý bố nên đã nấu cho ông một nồi cháo lươn. Thèm quá ông ăn liền ba bát, buổi sáng ăn thì chiều tối ông thấy trong người sảng khoái, đại tiện được. Mừng quá, hôm sau ông sai con nấu tiếp nồi nữa. Vào ngày sau thì đại tiện bình thường. Có phải chính đây là thời điểm cháo lươn thịnh hành không, nhưng mấy năm lại đây nó trở thành một đặc sản ở Nghệ An.
Xin được trở lại cháo lươn Thành Vinh. Hiện nay các nhà hàng ở thành phố Vinh thường nhập lươn ở các huyện như Đô Lương, Thanh Chương, Yên Thành…. và 1 kg lươn sống từ 10 – 12.000 đồng. Để có nồi cháo lươn ngon người ta thường chọn những chú lươn vừa và nhỏ. Vì lươn nhỏ khi nấu cháo không ngậy, không nát và dai. Đây cũng là một trong bí quyết để có một nồi cháo lươn ngon. Có lươn rồi thì người ta dùng tro bếp hoặc trấu làm cho sạch (tốt nhất đem trống một đêm để cho nó tiêu hết thức ăn và trườn cho bớt nhớt). Sau khi đã làm sạch, đem luộc chín, nhưng nhớ chỉ chín tới rồi xé nhỏ đậy kín. Tao hành mỡ, nghệ cho thật thơm rồi đổ nước đã đủ gia vị, mỳ chính vào và đun sôi. Khi đã sôi mới đổ lươn vào. Ta được một nồi mới chỉ có lươn và gia vị có màu vàng nghệ thơm phức. Yếu tố thứ hai là gạo nấu cháo phải thật ngon hầm nhừ hơi loãng một tí. Khi ăn, múc cháo vào bát rồi đổ lươn và các loại gia vị khác như: mùi tàu, rau răm…lên trên.
Ăn cháo lươn vừa ngon, thơm, mát dễ tiêu, đủ chất. Đặc biệt nó còn có khả năng chữa được ách bụng khó tiêu và đau lưng. Tốt nhất nên ăn khi nồi cháo đang còn bốc khói. Để nguội vừa mất chất lại kém ngon.
Cháo lương ăn quanh năm nhưng chủ yếu là về mùa hè. Vì mùa hè lươn nhiều, rẻ và ăn lại bổ, mát, rất thích hợp với khách du lịch. Vào thành phố Vinh không ai không thưởng thức cháo lươn. Nhiều nhất là ở ngã 3 quán Bàu, quán chị Liệu rồi ngã 5 Bưu điện. Thông thường vào các buổi sáng từ 6- 9 giờ và buổi tối từ 7- 10 giờ khách đến đông chật cả 20 bộ bàn ghế.
Đào Nguyễn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Hải Vân quan – Phần 2

Tôi cố gắng tìm kiếm mới phát hiện được trên điểm “du lịch vàng” này có doanh nghiệp nhà nước đó là…Bưu cục của Quận Liên Chiểu (Đà Nẵng) còn lại là các kiốt, nhà hàng tư nhân do Quận Liên Chiểu đầu tư xây dựng cho thuê hoặc người dân từ Nam Ô (Đà Nẵng), Lăng Cô (Huế) lên tự làm. Ngoài ra còn một đội ngũ bán rong khác đông chừng vài chục cũng từ hai đầu đèo cứ sáng sáng theo xe lên mua bán và chiều tối thì lui về chốn cũ như cán bộ đi làm công nhật. Nói chuyện với một lái xe chở khách du lịch nước ngoài từ Đà Nẵng chạy ra đang dừng đỗ trên đỉnh đèo để cho khách tham quan, anh cho biết đây là điểm du lịch mà khách thích nhất trong tour từ Đà Nẵng ra Huế. Theo chương trình khống chế thì thời gian dành cho điểm này khoảng trên dưới 30 phút để khách nghỉ ngơi tham quan chụp ảnh vì muốn ở lâu cũng không có chỗ nào để dừng chân. Các quán hàng trên này chủ yếu bán cho khách “lẻ”, còn khách đi tour họ rất ngại vào những chỗ như thế nhưng còn các dịch vụ của ngành du lịch hai tỉnh thậm chí một cái dù che cũng không có, thế là để tránh sự chèo kéo của chủ hàng, của trẻ bán rong đồng thời cũng tránh những hỏi han lôi thôi của du khách chi bằng….đánh bài chuồn là thượng sách.
Chỉ dừng chân ở đỉnh đèo chừng hơn tiếng đồng hồ tôi ghi nhận được có trên trăm người đến tham quan, trong đó đông nhất là khách nước ngoài đến bằng xe du lịch, có đoàn vài chục người, ai cũng tay xách nách mang máy quay phim, chụp ảnh lỉnh kỉnh. Có vị khách nước ngoài đến bằng xe mô tô, xe đạp thậm chí đón xe khách chạy đường trường và đến đây thì “nhảy” xuống…..Nhìn sự hớn hở của các du khách, tự nhiên tôi có cảm giác chột dạ vì sự “đón tiếp” thiếu chu đáo “của mình”. Cả khoảng đỉnh đèo rộng lớn chỉ có nắng và gió, còn di tích Hải Vân quan còn lại với ngôi tháp cổ xây bằng gạch vồ thì đã bị một nhóm người chiếm cứ làm chỗ ở. Tôi đếm mấy chục bậc thang thì lên đến tháp nhưng sao mà xa vời vợi quá thể, chưa kể xung quanh đó áo quần giăng mắc ngổn ngang và tựa như là….bãi vệ sinh công cộng. Thấy từng đoàn khách đến, leo ít bậc thang rồi vội vã quay lui, nhăn mặt, bịt mũi….thế là tôi cũng học các anh tài xế xe du lịch trò chuyện khi nãy vội lái xe xuống đèo mang theo cả “trời xấu hổ”.
Qua trao đổi với nhiều cán bộ có trách nhiệm của cả hai tỉnh cùng với thực tế những gì đang diễn ra hàng ngày trên đỉnh đèo Hải Vân chúng tôi nghĩ rằng cái khó ở đây chưa phải là do “Quốc phòng”, vì ở đây Bưu điện, cửa hàng, cảnh mua bán vẫn tồn tại….khách du lịch trong nước, nước ngoài vẫn nườm nượp dừng chân vãn cảnh, quay phim, chụp ảnh, không hề bị cấm cản như các điểm quốc phòng khác. Mặt khác nếu không thể tổ chức ở đây những nhà nghỉ dưỡng thì nên chăng có nhiều hình thức khác như kiểu nhà nghỉ mát với các dịch vụ bổ sung mang đậm nét của ngành du lịch hai tỉnh liền kề, có lẽ khó chăng như người bạn đi cùng với tôi nói: Vì đây là của chung hai tỉnh mà đã là chung thì….khó rồi ! Tôi không nghĩ vậy du lịch là không hề có biên giới, tính bền vững của du lịch là liên kết – liên kết ngành, liên kết địa phương, liên kết cả quốc tế….Dù qua lại nơi này nhiều lần nhưng mỗi khi rời Hải Vân quan tôi cũng cứ ngẩn ngơ trước vẻ đẹp của điểm du lịch này, tôi không hiểu đang mắc mớ ở khâu nào mà đành để bỏ phí một “địa danh vàng”, chẳng lẽ ngành du lịch cả hai tỉnh đều không chú ý ?
Trần Vĩ Dạ – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Hải Vân quan – Phần 1

-Điểm du lịch hấp dẫn nhất tour Đà Nẵng ra Huế
-Của chung hai tỉnh – của chùa không ai xót
-Nên chăng xây dựng nơi đây thành một đại quảng trường, một quần thể du lịch hoành tráng nhất nước
Là điểm gối đầu của hai tỉnh Thừa Thiên – Huế và Đà Nẵng, trên chặng đường đèo dài chừng 20 cây số với di tích Hải Vân quan nổi tiếng nằm ngay đỉnh đèo từ lâu đã đi vào thơ ca, nhạc họa, được khách trong nước và ngoài nước biết đến như là một điểm tham quan du lịch hấp dẫn và thực tế hiện nay dù trời mù sương hay nắng cháy, tại Hải Vân quan hằng ngày có hàng trăm người với đủ loại xe ô tô, xe máy…dừng chân ngắm cảnh non nước, mây trời. Và khi rời khỏi đỉnh đèo đầy sương khói để xuôi về hai thành phố lớn hai bên các du khách đều gánh thêm nỗi buồn về một địa điểm du lịch chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Tôi mang nỗi bức xúc đến tìm gặp ông Võ Phi Hùng – Giám đốc Sở Du lịch Thừa Thiên – Huế và nhận được câu trả lời cũng đầy nuối tiếc của ông: Ngành cũng đã xây dựng dự án phát triển khu du lịch Hải Vân quan nhất là khi đường hầm Tuynen xuyên Hải Vân quan hoàn thành nhưng khi tham khảo ý kiến của cơ quan quân sự thì họ cho rằng “đụng đến Quốc phòng” (?) thế là dự án phải bỏ dở ! Nghe vậy, chứ tôi thật tình không “thông” được vì không thể do thế mà khu du lịch này bị bỏ phí? Nói chuyện với tôi bà chủ một nhà hàng đang dọn cửa hàng ăn uống giải khát khá sang trọng trên đỉnh đèo Hải Vân cho biết, bà là người sống ở Nam Ô (thành phố Đà Nẵng) lên đây mua bán “từ xưa đến giờ”. Bà bần thần kể lại thời vàng son: Trước đây đèo Hải Vân đường rất hẹp, xe chỉ chạy được một chiều, lên xuống đều phải chờ lệnh và đỉnh đèo là điểm dừng xe của cả hai bên nên các cửa hàng ăn dù mọc như nấm nhưng vẫn bán đắt như tôm tươi, cả khu vực đỉnh đèo rộng lớn giống như “cái chợ” họp từ sáng sớm đến tối mịt, sau ngày giải phóng phần thì đường mở rộng thêm chạy được hai chiều, phần ít khách, phần thì nói an ninh trật tự….nên bao nhiêu quán xá đều phải dẹp bỏ. Mấy năm gần đây khách du lịch đông đúc nên một loạt quán mở lại!
Thấy bà vui tính, xởi lởi tôi hỏi tiếp: -Quán bà thường đón khách gì? -Ta có, Tây có, cứ xi lô xi la nhặng xị lên nhưng đông nhất là khách Tây rồi đến “lũ choai choai” cứ từng đôi từng cặp từ Đà Nẵng, Lăng Cô phóng xe máy lên chơi buổi sáng rồi chiều về.
-Thế quán bà mỗi ngày bán được chừng bao nhiêu? Tôi hỏi tiếp. Bà nhìn tôi có vẻ hơi nghi ngại, rồi cũng nói.
-Mưa gió thì vài trăm nghìn, thời tiết như ra giêng đến nay cũng được vài triệu, có ngày gặp khách “sộp”, gặp “mối” thì nhiều hơn nữa nhưng tôi bán đủ thứ chứ có phải ăn uống nhậu nhẹt không đâu anh ơi!
Vâng, cửa hàng bà giống như một siêu thị thu nhỏ vì ngoài ăn uống giải khát còn có cả hàng tạp hóa, từ bánh kẹo đến cây kim, sợi chỉ đều có mặt rồi các mặt hàng lưu niệm của Huế, Đà Nẵng…đều không thiếu. Nghe bà giới thiệu tôi cố lân la đi khắp cái thị trường thương mại trên đỉnh đèo cao vời vợi so với mặt biển xanh đang gầm gào bên dưới. Cảm giác đầu tiên của tôi là: thật hỗn độn, cả người mua kẻ bán như đang chơi trò rượt đuổi ! -Người mua một, người bán mười, khách vừa xuống xe chưa kịp “lai tỉnh” sau hơn tiếng đồng hồ vượt đèo lên đây đã bị cả đoàn trẻ em vây quanh, đứa chào mời những khay hàng đến tận mũi. Khách từ chối nhóm này thì gặp ngay nhóm khác và cứ thế: một ông khách nước ngoài đi trước thì đằng sau là cả đoàn rồng rắn và cuối cùng muốn được êm thấm mà chụp ảnh, ngắm cảnh, chuyện trò….lắm du khách đành “liều” mua cái gì đó cho yên chuyện hoặc kéo nhau vào quán ăn nào đó ngồi nghỉ sẽ được các vị chủ này “bảo trợ” khỏi bị đeo bám.
Trần Vĩ Dạ – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Ông Lại Hồng Khánh giám đốc Sở Du lịch Hà Tây

Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch để dần xóa tính thời vụ trong kinh doanh
Phóng viên: Hà Tây là vùng đất cửa ngõ Tây Nam thủ đô Hà Nội, cũng là tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú. Xin ông cho biết vài nét về hoạt động du lịch ở Hà Tây trong những năm qua?
Ông Lại Hồng Khánh: Hà Tây vốn tiềm ẩn trong mình nền văn hóa, tài nguyên thiên nhiên khá đa dạng, cũng là vùng đất tụ khí anh hoa “Địa linh nhân kiệt” hết sức đặc trưng của dân tộc. Xác định rõ vị trí quan trọng về du lịch, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Ban chỉ đạo phát triển du lịch do bà Nguyễn Thị Mùi, Phó chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh phụ trách. Nhờ được quan tâm như vậy, nên hoạt động du lịch ở Hà Tây ngày càng phát triển. Năm 2000 Hà Tây đón 1.250 nghìn lượt khách, trong đó có 554 nghìn khách quốc tế, tăng gấp 2 lần so với năm 1995. Nộp ngân sách từ 1,4 tỷ lên 8,6 tỷ. So với năm 1995 lượng khách hàng năm tăng bình quân là 14,6%, tổng doanh thu tăng 20%. Thực hiện Chương trình hành động quốc gia về Du lịch và các sự kiện du lịch 2000 của Tổng Cục Du lịch, ngành Du lịch Hà Tây đã có chương trình hoạt động cụ thể với 6 nội dung, quảng bá tuyên truyền về du lịch Hà Tây, phát triển văn hóa gắn với các lễ hội dân tộc, phát triển nâng cấp các điểm du lịch, tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích hoạt động du lịch phát triển, hoàn thiện tổ chức nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về du lịch.
Phóng viên: Xin ông cho biết hướng phấn đấu của Du lịch Hà Tây trong năm 2001 là những vấn đề gì?
Ông Lại Hồng Khánh: Năm 2001 Hà Tây phấn đấu đón 1,4 triệu lượt khách trong đó có 8 vạn lượt khách quốc tế. Dự báo đến năm 2005 Hà Tây sẽ đón 3 triệu lượt khách bao gồm khách quốc tế là 10 vạn người, thu nhập xã hội từ du lịch tăng gấp 1,4 lần. Để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu trên, tỉnh sẽ tập trung tài lực, nhân lực giải quyết bằng được một số vấn đề chủ yếu sau: Đổi mới tư duy đầu tư cho du lịch, coi đây là đầu tư cho một ngành công nghiệp lớn có lợi nhuận cao, hơn thế nữa còn làm giàu thêm đời sống tinh thần. Do chưa có vốn lớn, thị trường chưa hấp dẫn nên tập trung đầu tư có trọng điểm, có hiệu quả ngay, lấy ngắn nuôi dài. Xây dựng ngay quy hoạch tổng thể và chi tiết các trọng điểm du lịch như Sơn Tây, Ba Vì và khu vực Hương Sơn… Có quy chế quản lý xây dựng thích hợp, phân cấp quyền hạn, trách nhiệm rõ ràng giữa các ngành, thị xã và huyện. Tỉnh sẽ mở rộng giao thông đến các điểm du lịch, hoàn thiện cơ sở hạ tầng tại các khu du lịch tập trung. Đa dạng và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tiến tới xóa tính thời vụ trong kinh doanh, đó là mục tiêu hàng đầu của du lịch Hà Tây. Chú trọng bảo vệ môi trường, con người và tổ chức vẫn là yếu tố quyết định. Là tỉnh có lực lượng trẻ, trình độ văn hóa cao song nhân viên, hướng dẫn viên lành nghề, người quản lý giỏi có kinh nghiệm vẫn còn thiếu. Vì vậy, mặc dù đã phối hợp với Trường Du lịch Việt Nam, Trường Cao đẳng Kỹ thuật Hà Tây đào tạo được 3 khóa Trung cấp du lịch với 200 học viên, nhưng tình vẫn tiếp tục mở lớp đào tạo ngắn ngày, cập nhật những kiến thức mới về hoạt động du lịch cho các đối tượng hoạt động trong ngành. Sắp xếp là các doanh nghiệp để có doanh nghiệp mạnh, xứng đáng với vai trò chủ đạo trong kinh tế thị trường, đủ sức vươn ra thị trường thế giới cũng đang là vấn đề bức xúc. Hà Tây sẽ xử lý theo hướng liên kết các doanh nghiệp tư nhân vốn ít, đầu tư phân tán, tạo ra hiệu quả kinh tế – xã hội cao hơn. Sự nghiệp du lịch Hà Tây còn nhiều khó khăn thử thách, song với xu thế hiện nay, với thành tựu đã đạt được cùng với kinh nghiệm đã có và nhất là sự quyết tâm hành động, ngành du lịch Hà Tây chắc sẽ đạt được những kết quả tốt hơn góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.
Phóng viên xin cảm ơn ông.
Đỗ Anh – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Về quản lý phần vốn của Nhà nước ở các doanh nghiệp

Gần đây, nhiều bạn đọc trong ngành Du lịch bày tỏ ý muốn tìm hiểu về những vấn đề liên quan đến chế độ quản lý phần vốn của Nhà nước ở các doanh nghiệp, trong đó nhiều người hỏi về người quản lý phần vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa….Các vấn đề bạn đọc quan tâm hầu hết đã được quy định trong các văn bản pháp quy của Nhà nước đã ban hành. Để giúp bạn đọc tiện tìm hiểu, chúng tôi hệ thống lại những điểm liên quan mà bạn đọc quan tâm dưới dạng hỏi và đáp. Mời bạn đọc tham khảo
Hỏi: Quyền và nghĩa vụ của người trực tiếp quản lý phần vốn nhà nước ở các doanh nghiệp ?
Đáp: Để mở rộng quan hệ hợp tác sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nước cũng như ngoài nước; theo cơ chế quản lý hiện hành, doanh nghiệp nhà nước được góp vốn với các doanh nghiệp khác nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh. Điều quan trọng là phải quản lý chặt chẽ, bảo đảm tránh thất thoát và sử dụng có hiệu quả vốn của Nhà nước. Theo Luật doanh nghiệp nhà nước, hội đồng quản trị hoặc giám đốc (đối với doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng quản trị) nhận vốn của nhà nước để góp vào các doanh nghiệp khác có quyền và nghĩa vụ: Xây dựng phương án góp vốn trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền; cử, bãi miễn, khen thưởng, kỷ luật người trực tiếp quản lý phần vốn góp đó; giám sát, kiểm tra việc sử dụng vốn góp, thu lợi nhuận từ vốn góp. Người trực tiếp quản lý phần vốn góp của Nhà nước ở các doanh nghiệp có quyền và nghĩa vụ: Tham gia bộ máy quản lý, điều hành ở doanh nghiệp theo Điều lệ doanh nghiệp; theo dõi và giám sát tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vốn Nhà nước góp; thực hiện chế độ báo cáo và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị hoặc giám đốc (đối với doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng quản trị) về phần vốn góp đó.
Hỏi: Người quản lý phần vốn Nhà nước tại công ty cổ phần (doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa) ?
Đáp: Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, hội đồng quản trị Tổng công ty 91 thỏa thuận với Bộ Tài chính về việc cử người trực tiếp quản lý phần vốn Nhà nước tại Công ty cổ phần (trường hợp chuyển toàn bộ doanh nghiệp độc lập thành Công ty cổ phần). Hội đồng quản trị các doanh nghiệp nhà nước có hội đồng quản trị hoặc giám đốc doanh nghiệp nhà nước độc lập không có hội đồng quản trị cử người trực tiếp quản lý phần vốn Nhà nước tại công ty cổ phần được thành lập từ cổ phần hóa một bộ phận của doanh nghiệp mình (trường hợp chuyển một bộ phần của doanh nghiệp độc lập) thành công ty cổ phần. Người trực tiếp quản lý phần vốn Nhà nước tại công ty cổ phần thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 50 và Điều 54 của Luật doanh nghiệp nhà nước như đã nêu trong các trường hợp trên đây.
Tìm thấy tấm bia Nam Xương đài
Như Báo Tuần Du Lịch (số 23. Từ 7-14/06/1999) đưa tin, trong đợt khảo sát về phía Tây kinh thành, chúng tôi đã tìm thấy tấm bia Tây thành đài (pháo đài Tây thành). Hiện nay chúng tôi tiếp tục khảo sát về phía Nam kinh thành Huế, tìm thấy thêm một tấm bia cổ, chất liệu bằng đá thanh, gắn chìm trong tường thành. Bia cao 0,61m, rộng 0,44m, mặt bia ghi ba chữ Hán “Nam Xương đài” (pháo đài Nam Xương). Qua tra cứu sử liệu được biết pháo đài Nam Xương được xây dựng dưới thời vua Gia Long (1802 – 1819).
Hồ Vĩnh – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Làm gì để ngăn chặn tình trạng tùy tiện giảm giá phòng khách sạn?

LTS: Như tin đã đưa trên Báo Tuần Du Lịch số 29 từ ngày 19-26/7/1999, vừa qua Tổng cục Du lịch đã tổ chức Hội thảo: “Giá phòng khách sạn – Thực trạng và giải pháp”. Các đại biểu đã phân tích nguyên nhân, những hậu quả của tình trạng tùy tiện giảm giá phòng khách sạn diễn ra từ vài năm nay, đồng thời bàn những biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng đó. Báo Tuần Du Lịch xin trích đăng những quan điểm, kiến nghị của một số doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu, quản lý….đã đưa ra tại Hội thảo này.
– Ông Nguyễn Hoàng Thành, Sở Du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Không nên áp đặt giá cho các khách sạn.
“Đối với việc áp dụng biện pháp quản lý giá trong khách sạn theo quan điểm của chúng tôi, trong cơ chế thị trường nó tự điều tiết, chúng ta không nên áp đặt giá cả cho các khách sạn, đến một thời điểm nhất định giá cả sẽ ổn định hơn so với tình hình hiện nay.
Cần thiết nên thành lập các hiệp hội khách sạn trên địa bàn để góp phần ổn định tình hình giá cả. Hiệp hội này do các giám đốc các khách sạn là thành viên, và thay phiên làm chủ tịch, Hiệp hội hoạt động theo quy chế và có sự giám sát lẫn nhau.
Tổng cục Du lịch nên quy định những khách sạn đã được xếp sao mới được đón khách nước ngoài, hoặc những cơ sở lưu trú khác (biệt thự, bungalow, camp-ing…) muốn đón khách nước ngoài phải được sự cho phép của ngành Du lịch”.
– Ông Phan Hữu Thắng, Bộ Kế hoạch và đầu tư: Quy định giá tối thiểu là cần thiết.
“Thực chất trong cơ chế thị trường, giá phòng khách sạn là do chủ đầu tư quyết định, phù hợp với tình hình kinh doanh thực tế của từng thời kỳ. Nếu có chăng việc điều tiết về giá để đảm bảo quyền lợi chung của nhau thì công việc đó thuộc chức năng của một tổ chức như Hiệp hội khách sạn.
Trong khi chưa thành lập được Hiệp hội khách sạn, việc can thiệp của Nhà nước trong quản lý giá đối với hoạt động kinh doanh của khách sạn hiện này là rất cần thiết và bức xúc, mà biện pháp có thể thực hiện được là quy định giá tối thiểu áp dụng cho từng cấp hạng khách sạn…”
-Ông Nguyễn Quang Lân, Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội: Thay vì hạ giá nên tăng dịch vụ miễn phí.
“Việc hạn chế hạ giá cho thuê phòng khách sạn cần được các cơ quản quản lý Nhà nước khuyến cáo các khách sạn: thay vì hạ giá phòng cho thuê thì nên tăng cường các dịch vụ miễn phí kèm theo nguyên giá cho thuê phòng, cộng với các chương trình khuyến mãi đặc biệt phong phú, sẽ hấp dẫn du khách nhiều hơn, tạo ra nhiều việc làm và các yếu tố kích thích phát triển kinh tế du lịch…
Một số biện pháp nhằm hạn chế hiện tượng hạ giá cho thuê phòng: Tất cả các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn phải xây dựng phương án giá cho thuê phòng tối thiểu kèm theo các dịch vụ (trong một thời gian) của khách sạn mình và đăng ký cam kết với cơ quan quản lý Nhà nước sẽ thực hiện theo mức giá sàn đó; khuyến khích hình thành các nhóm khách sạn cùng thứ hạng, cùng quy mô để xây dựng quy chế về mặt bằng giá phải thực hiện, có sự hướng dẫn, kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý du lịch….
P.V – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999