Côn đảo – thiên đường du lịch phương đông – Phần 2

Hơn nữa, đảo chỉ cách đất liền khoảng 95 hải lý (180 km) nhưng phương tiện vận chuyển cho du khách đến với đảo là điều cần quan tâm. Nếu sử dụng đường hàng không với 50 phút đi bằng máy bay trực thăng có sức chở 24 người, thì việc đăng ký chuyến bay rất khó (3 chuyến/tuần) và giá vé (500.000 đ/lượt) lại nằm ngoài tầm tay của nhiều cư dân và du khách quốc tế đang sinh sống, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh muốn đi nghỉ cuối tuần tại Côn Đảo. Còn phương tiện đường thủy, việc đưa tàu Côn Đảo 9, trang bị khá tốt tiện nghi phục vụ, có sức chứa 250 người khởi hành từ Sài Gòn là sự cố gắng lớn của những nhà quản lý. Tuy nhiên, với 30 tiếng nằm trên tàu (cả lượt đi, về) nhưng thiếu phương tiện giải trí, các dịch vụ hỗ trợ, dễ gây tâm lý nhàm chán cho du khách, đồng nghĩa với việc nhà đầu tư lại mất cơ hội thu lại nguồn thu nhập đáng kể từ việc khai thác lĩnh vực F&B (thức ăn và đồ uống) cao cấp, bởi lẽ khách du lịch lúc nào cũng muốn chi tiêu những khoản ngân sách đã được định sẵn trong kế hoạch chuyến đi của mình. Người viết bài rất chia sẻ với tâm sự của ông Ninh, khi thời gian cho ra đời một chiếc tàu đã mất 1 năm với vốn đầu tư khoảng 14 tỷ đồng, mà sau một năm đưa vào sử dụng đã thấy lạc hậu về công nghệ. Thế nhưng, mục đích của tàu trong tuyến Côn Đảo là phục vụ hầu hết cho đối tượng khách du lịch. Vì thế, nên chăng có sự tham gia của ngành Du lịch trong việc khai thác loại hình vận chuyển này?! Mặt khác, hệ thống lưu trú tại đảo lại không đáp ứng được nhu cầu phục vụ trong những đợt cao điểm với đoàn có số lượng lên đến 200 khách. Mặc dù có 3 doanh nghiệp (ATC, Saigon Tourisr, Phi Yến) cùng tham gia vào kinh doanh lĩnh vực này nhưng cũng chỉ đạt được số phòng tiêu chuẩn ở mức 35 và 100 giường tập thể… Theo nhiều nhà kinh doanh lĩnh vực này thì thủ tục về nhà đất là yếu tố gây trở ngại chính cho vấn đề mở rộng.
Những ngày chúng tôi ở Côn Đảo cũng là lúc đoàn công tác của Bộ Văn hóa – Thông tin ra khảo sát hệ thống di tích lịch sử nhà tù Côn Đảo để kịp hoàn thành dự án phục hồi với vốn đầu tư lên đến 60 tỷ đồng. Ngoài ra, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũng thông qua quy hoạch để biến Vườn quốc gia Côn Đảo thành khu du lịch sinh thái: Dự án nâng cấp sân bay Cỏ Ống, đáp ứng phục vụ được loại máy bay ART với giá vé 300.000đ/lượt cũng được Tổng Công ty Hàng không Việt Nam tiến hành khảo sát. Như thế, triển vọng Côn Đảo trở thành một khu du lịch phức hợp với nhiều lợi thế khai thác từ du lịch biển, với những bãi biển cát trắng trải dài dưới mặt nước xanh màu ngọc bích tĩnh lặng, có những rặng san hô tuyệt đẹp và loài bò biển (loài động vật được xếp vào sách đỏ thế giới), rừng với hệ động thực vật nguyên sinh và hệ thống di tích nhà tù, nghĩa trang liệt sĩ Hàng Dương… chỉ còn là vấn đề thời gian. Khi đó, mỏ khí Nam Côn Sơn được đưa vào khai thác sẽ là yếu tố để Côn Đảo phục vụ thêm đối tượng khách khác là những chuyên gia, kỹ sư về dầu khí. Và các công ty lữ hành Thành phố Hồ Chí Minh lại có thêm điểm để khai thác tour cuối tuần phục vụ cho du khách.
Hữu Vinh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Côn đảo – thiên đường du lịch phương đông – Phần 1

Chúng tôi đến Côn Đảo trong ánh bình minh vừa ló rạng từ phía chân cầu Cảng Bến Mới. Sau 15 giờ trên con tàu Côn Đảo 9, được đánh giá là “khá” nhất từ trước đến nay trong các loại phương tiện đường thủy dẫn đến hòn đảo này, cơn mệt mỏi đã nhanh chóng xóa tan trong lòng các bạn trẻ bởi nét quyến rũ của hòn đảo từng được người Tây mệnh danh là “Thiên đường của phương Đông”. Nhưng đối với thế hệ cha ông, cuộc hành trình về nguồn lần này mang đến cho họ những ký ức về “địa ngục trần gian” với 113 năm giam cầm những người Việt yêu nước…
Chị Nguyễn Thị Cúc, người cựu nữ tù chính trị Côn Đảo năm xưa giờ là Phó chủ tịch Công đoàn của Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (Saigon Tourist) đã khóc khi đứng trước “chuồng cọp”. Không thể tưởng tượng nổi được sự dã man, tàn bạo mà thực dân Pháp và Mỹ – ngụy đã gây ra cho những thế hệ người Việt yêu nước khi bị lưu đày ra đây. Khi ấy, trong một lần xuống đường đấu tranh, chị đã bị bắt và bị đày ra Côn Đảo. Chị tâm sự: “Tuy là người trong cuộc nhưng tôi cũng thấy sự chịu đựng của những người đi trước quả là quá mức tưởng tượng. Tôi không hiểu lúc ấy vì sao tôi chịu được, chắc là vì sức trẻ và lý tưởng mà thôi”. Vâng, khi đứng trong chuồng bò, nhìn những du khách trẻ tuổi đứng trầm ngâm một cách im lặng, chăm chú lắng nghe lời thuyết minh của hướng dẫn viên, mới thấy sức hút của câu chuyện đầy máu và nước mắt của cha ông đã ngã xuống tại nơi này. Từng địa danh cầu Ma Thiên Lãnh, cầu tàu 914, sân bay Cỏ Ống, hệ thống hàng rào nhà chúa đảo, dãy nhà tù biệt giam, trại giáo huấn Phú Hải, trại Phú Tường… đều còn giữ nguyên hiện trạng ban đầu như một minh chứng về nỗi đau của dân tộc Việt trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do. Không chỉ riêng chị Cúc, trong Ban Giám đốc của Saigon Tourist có đến 3 thành viên cấp cao từng là cựu tù Côn Đảo, cho nên chuyện Saigon Tourist là nhà tiên phong ra Côn Đảo làm du lịch vào năm 1996 là không lạ gì. Vì Côn Đảo, ngoài sức hút của loại hình du lịch về nguồn, giáo dục học tập cho thế hệ trẻ… còn là thắng cảnh bến Dốc, Đầm Trầu, Vườn quốc gia Côn Đảo… phù hợp cho loại hình du lịch sinh thái (eco-tourism) phát triển.
Sự thật hôm nay, Du lịch Côn Đảo đang trở mình. Theo ông Hứa Ngọc Ninh, Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Côn Đảo thì: mũi nhọn kinh tế của Côn Đảo là Dịch vụ cảng biển và Du lịch. Trong ba hòn đảo phía Nam là Phú Quí, Phú Quốc và Côn Đảo thì Côn Đảo có hệ thống cơ sở hạ tầng tốt hơn cả. Hệ thống đường đến khu dân cư đều được cải tạo và nâng cấp đúng chuẩn. Đặc biệt là đường Tôn Đức Thắng, dài 4,1km (vốn là bến Andovard thuở nào) vừa được khánh thành vào ngày 20/3/2001, được mở rộng 7m với dải phân cách hai chiều là hàng cây bàng cội được trồng từ thời Pháp, có lắp đèn chùm chiếu sáng công cộng cùng với kè biển dài 1,6km, mặt kè rộng 1m được rải đá tarepot chống sóng biển lớn.
Năm 2000, khách đến Côn Đảo hơn 15.000 lượt, trong đó du khách quốc tế là 4.258 lượt, tăng 385,3% so với năm 1999. Một tín hiệu lạc quan cho ngành Du lịch ở vùng đất này. Tuy nhiên, lưu trú của khách ở Côn Đảo lại không dài, tối đa là một ngày. Nhiều lần Saigon tourist phối hợp với hãng tàu Star Cruise để đưa Côn Đảo vào lịch trình tour đường biển của hãng, nhưng không thể khai thác hết công suất vì so với Hải Nam (Trung Quốc), Phu Khét (Thái Lan) hoặc Phú Quốc thì ngoài việc tắm biển và thăm thú bảo tàng, di tích nhà tù, khách chẳng còn có cơ hội tiêu tiền cho việc mua sắm, sử dụng dịch vụ từ biển và ăn uống trên đảo.
Hữu Vinh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Trẻ em “khát” sân chơi

Cách đây hơn 10 năm, do chủ yếu dựa vào bao cấp của Nhà nước nên các Nhà Thiếu Nhi (NTN) hoạt động một cách có hệ thống và đạt hiệu quả cao. Chuyển sang thời kinh tế thị trường, kinh tế không còn dồi dào và không được thiết lập nữa nên chỉ còn lại một số ít Nhà Thiếu Nhi các thị xã, thành phố trụ được. Theo thống kê của Hội đồng Đội Trung ương, thì với hơn 100 Nhà Thiếu Nhi đang hoạt động trên cả nước liệu có đáp ứng được nhu cầu vui chơi, giải trí của các em?
Hiện nay, trên địa bàn thủ đô chỉ có duy nhất cung thiếu nhi Hà Nội là điểm văn hóa dành riêng cho các em. Trung bình mỗi dịp hè Cung đón khoảng 150.000 lượt em tham gia vào các chương trình như: đu quay, trò chơi điện tử, bập bênh, học đàn, hát, vẽ… Nhưng toàn thành phố chỉ có một cung thiếu nhi thì…? Ông Nguyễn Tiến Dũng – Phó giám đốc Cung Thiếu nhi Hà Nội cho biết: “ Hệ thống Nhà Thiếu Nhi của ta hiện nay qua thiếu. Đã thế, phần lớn lại đang hoạt động yếu ớt, cầm chừng. Vì vậy, điểm vui chơi cho trẻ em vốn đã thiếu, lại càng thiếu hơn, gây nên một thiệt thòi lớn cho các em”.
Qua khảo sát thực tế, đa số Nhà Thiếu Nhi hiện đang rơi vào tình trạng bế tắc, không những không phát triển mà còn có dấu hiệu teo dần đi. Đặc biệt ở địa bàn nông thôn. Tại các tỉnh nghèo không có đủ kinh phí nên phải hoạt động theo hướng “lấy ngắn nuôi dài”, cho thuê những khoảng trống tận dụng được để lấy tiền để đắp vào hoạt động giáo dục. Nhưng từ đây, cũng nảy sinh ra nhiều vấn đề là ở một nơi Nhà Thiếu Nhi bị biến thành quán nhậu, tiệm cafê, karaoke hay điểm chiếu phim trường. Vậy là nghiễm nhiên, một địa chỉ văn hóa bỗng chuyển thành một tụ điểm phức tạp, dễ phát sinh tệ nạn xã hội. Hơn nữa, Nhà Thiếu Nhi ở nông thôn hoạt động chủ yếu trên cơ sở phong trào, chưa có một phương pháp thiết thực. Vì thế chỉ nổi lên một thời gian rồi lại tắt ngấm.
Nét chung hiện nay là do tiếp nhận lại từ một cơ quan đã chấm dứt hoạt động nên thiết kế, quy mô của hầu hết các Nhà Thiếu Nhi không phù hợp với hoạt động học tập, giải trí và cũng không có khả năng phục vụ số lượng học viên quá đông. Nhiều điểm, cơ sở vật chất đã xuống cấp nhưng cũng không có kinh phí sửa chữa. Thậm chí có nơi còn bị các cơ quan chiếm. Ông Vũ Văn Dũng, hiện đang công tác tại văn phòng tư vấn gia đình – trẻ em của UBBVCSTE huyện Từ Liêm (Hà Nội) than vãn: “Khi xây dựng Nhà văn hóa, ngay vấn đề xin được đất cũng gặp khó khăn, nhưng nếu được thì thường đất cũng ở xa khu dân cư, thậm chí gần sông, ao, hồ, nên khó thu hút được các em”. Đây cũng là tình trạng chung của nhiều địa phương khác đáng mắc phải.
Có một thực tế là, muốn tự tồn tại, những người quản lý Nhà Thiếu Nhi phải tìm đến thị hiếu của các em. Từ đây dễ biến một trụ sở sinh hoạt thiếu nhi thành một trung tâm dạy thêm, học thêm. Nhưng để có điều kiện học thêm thì không phải em nào cũng có. Chẳng hạn, để theo học khóa hoàn thiện kỹ năng nghe nói tiếng Anh cần khoảng 300.000 đồng, học đàn (ghita, Ooc- gan…) từ 400.000 – 600.000đ/ tháng… Thế là con nhà nghèo chỉ biết nhìn… mà thèm! Trong công ước Quốc tế về quyền trẻ em có ghi: “… trẻ em có quyền được vui chơi, giải trí…”. Nhưng để các em vui chơi, giải trí bổ ích, chúng ta phải tạo ra được những sân chơi lành mạnh, mà trước hết là có cách quản lý thích hợp đối với các Nhà Thiếu Nhi, để nơi này thực sự là những điểm vui chơi chính của tất cả các em.
Bình Thuận thêm ba dự án 100% vốn nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực du lịch.
5 tháng đầu năm 2001, tại Bình Thuạn đã thu hút thêm 3 dự án 100% vón đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực du lịch, nâng tổng số dự án 100% vốn nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực du lịh tại tỉnh này lên 7 dự án.
3 dự án mới đó là: dự án Khu du lịch Cát Trắng (Anh) sẽ xây dựng khu nghỉ mát gia đình tại xã Phú Hải (Phan Thiết), dự án Khu du lịch EO (Úc) với việc hình thành khu vui chơi ở xã Hàm Tiếu (Phan Thiết) và dự án du lịch lặn biển (Hàn Quốc) tại Vĩnh Hảo (Tuy Phong).
Hà Nội phát triển hệ thống đèn tín hiệu giao thông
Theo Sở Giao thông công chính Hà Nội, đến nay, dự án Hệ thống đèn tín hiệu giao thông do chính phủ Pháp viện trợ và Công an thành phố Hà Nội là chủ đầu tư hoàn thành xong việc xây dựng và đưa vào vận hành 105 nút giao thông có đèn điều khiển, 20 camera và 6 máy đếm xe.
Được biết, Sở Giao thông Công chính Hà Nội đang phối hợp với Công an thành phố khảo sát, đánh giá hiện trạng hệ thống đèn tín hiệu giao thông để lập kế hoạch duy tu; đồng thời, xem xét các vị trí thí điểm cho phép người tham gia giao thông được rẽ phải, rẽ thái thuận chiều khi có đèn đỏ một cách hợp lý. Bên cạnh đó, Sở cũng đang nghiên cứu để xây dựng thêm hệ thống đèn tại một số nút giao thông cần thiết như Đại Cồ Việt – Tạ Quang Bửu – Hoa Lư, Nguyễn Chí Thanh – Láng – Trần Duy Hưng v.v… và khảo sát để dỡ bỏ đèn tín hiệu tại các vị trí bất hợp lý hoặc không cần thiết.
Thu Thảo – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Lên đồng “cần loại bỏ những yếu tố lạc hậu”

Lên đồng là một thể loại hát múa biểu diễn thuộc nhóm nghệ thuật hát múa dân gian. Lên đồng có đặc điểm tương tự như múa hát đưa linh, múa hát xoan đúm ả đào, múa hát trừ tà trục quỷ, múa lân, múa tứ linh, múa rồng… để phục vụ cái linh thiêng và thể hiện ước vọng có một đời sống cộng đồng tốt đẹp hơn.
Những giá đồng thường được gọi về nhập hồn vào người hầu đồng là những nhân vật có công lao với cộng đồng dân tộc. Đó là những nhân vật xa lạ với thế giới mê tín, đóng góp công sức vào sự tồn tại của cộng đồng trên các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và là biểu tượng của dân tộc hoặc của một vùng. Bên cạnh những nhân vật có thật trong lịch sử, người ta còn linh thiêng hóa đối tượng cá thể như thờ con sông, cái cây hay con vật cụ thể nào đó, dần dà đi đến linh thiêng hóa cả một chủng loại, như một thần tính cho các dòng sông (Mẫu Thủy phủ), một thần tính cho các rừng rú núi non (Mẫu Thượng ngàn), một thần tính cho chín cõi trời (Cửu thiên huyền nữ), một thần tính cho mỗi vùng (bà chúa Xứ)… và tạo nên tín ngưỡng đa thần. Từ những nhân vật có thật trong lịch sử được thần thánh hóa và những vị thần thánh trong tín ngưỡng đa thần, lên đồng bao gồm thanh đồng (gồm 5 giá: Trần Hưng Đạo, Quan Vân Trường…), đồng cốt (gồm các giá công chúa Liễu Hạnh, mẫu Thượng ngàn, mẫu Thủy phủ, Huyền Nữ Cửu Thiên, bà chúa Xứ); đồng đức ông (giá ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Mười); đồng cậu (gồm 12 giá: cậu Cả, cậu Bé..); đồng cô (gồm 12 giá: cô Cả, cô Đôi, cô Bơ, cô Sáu, cô Chín, cô Mười…) và đồng cô bóng cậu mang tính địa phương, không có tên gọi cụ thể, tức là chưa được tính cách hóa.
Những người hầu đồng thường rất cẩn thận, kỹ càng khi sửa lễ dâng lên các vị thánh thần hàng quan (thanh đồng), đồ lễ dâng lên là chè, thuốc và rượu; các vị nữ thần hàng chầu (đồng cốt), lễ vật lại là trầu cau, lương thực. Hoa quả, bánh kẹo dùng để cúng tiến hàng cô, hàng cậu. Ở mỗi giá đồng, người hầu đồng lại có người giúp thay trang phục để phù hợp với hồn của giá đồng đó. Để hầu đủ 36 giá, người hầu đồng sẽ ăn vận 36 trang phục khác nhau, như bộ áo xanh lam, tay cầm đao ở giá đức thánh Trần; áo vàng, đai đỏ, tay cầm cờ trong giá ông Hoàng Mười; hay áo tím, váy xanh đen trong giá cô Bé… Khi đã nhập đồng, người hầu đồng say sưa nhảy múa trong tiếng nhạc lời ca với những biểu hiện khác nhau, khi tươi tắn, khi trang nghiêm và luôn tay phát lộc, phát tiền cho những người dự lễ. Cuối buổi hầu đồng, các loại vàng mã (tiền âm, voi, ngựa giấy, hình nhân…) được đốt hết để cúng tiễn hồn. Sau đó, người vừa hầu đồng sẽ bày cỗ khoản đãi khách mời dự lễ lên đồng và cả những khách thập phương đi lễ tại đền ngày hôm đó.
Nếu có đủ điều kiện kinh tế, mỗi năm, người đi hầu đồng thường có hai buổi lễ lên đồng; lễ cầu tài lộc đầu năm và lễ tạ cuối năm. Cảm giác sau buổi lễ lên đồng của những ông đồng, bà cốt là khỏe mạnh hơn, tin tưởng cuộc sống tương lai sẽ yên ổn và tốt đẹp. Tuy nhiên, để tổ chức được buổi lễ lên đồng, người hầu đồng phải chi phí rất tốn kém. Chị Phùng Thị Thảo ở Phú Xuyên, Hà Tây là người đã theo hầu đồng 3 năm liền, cho biết: sắm đủ trang phục cho một buổi lên đồng hết khoảng 7 triệu. Đó là chưa kể đến các khoản sắm lễ hương hoa, oản quả và vàng mã, tiền bồi dưỡng dàn nhạc, chi phí đi lại…Khoản tiền này là lớn so với thu nhập bình quân đầu người hàng năm của người Việt Nam. Theo bà Lê Thị Hoan ở Hàng Mã (Hà Nội), trong chuyến đi hầu đồng đền Mẫu ở Trái Hút, Bảo Hà (Lào Cai) tháng 3 vừa qua, bà cũng đã tiêu tốn hàng chục triệu đồng.
Tuy nhiên, do lên đồng có từ nhiều năm, nên đã có những yếu tố lạc hậu. Vì vậy công việc mà ngày nay cần làm bên cạnh việc gìn giữ nét văn hóa dân gian là lọc bỏ các yếu tố lạc hậu, mê tín, lãng phí như đốt vàng mã, ngựa giấy, hình nhân thế mạng, sắm sửa lễ vật đắt tiền, cỗ bàn linh đình. Nhu cầu xã hội luôn gia tăng, đòi hỏi sự sáng tạo thường xuyên của con người, nhưng làm sao có thể sáng tạo được khi người ta chìm đắm trong trạng thái thụ động, chờ đợi ở thế lực siêu nhiên ban tặng? Việc bài trừ yếu tố mê tín trong tín ngưỡng là việc cần được tiến hành khẩn trương, song cũng là một quá trình đòi hỏi sự kiên nhẫn khi làm, bởi nó là sự tháo gỡ lớp văn hóa già nua, lạc hậu và sự gieo trồng yếu tố văn hóa mới vào nhiều thế hệ có tâm lý khác nhau, không thể làm trong một lần và trong một thời gian ngắn ngủi hoặc đứt quãng.
Nguyễn Quỳnh Hoa – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Tập tục lạ của người Đôgôn

Tại Đông Nam Á quốc gia Mali (Châu Phi) có một cao nguyên đá vôi chạy dọc theo biên giới, rộng 80 km, cao từ 470 m đến 1.120 m. trên cao nguyên có bộ tộc Đôgôn khoảng 8000 người sống trong những bản làng nằm rải rác.
Bộ tộc người Đôgôn tới đây cư trú bao giờ không rõ. Ngay cả những người Đôgôn cũng biết qua câu chuyện truyền khẩu: tổ tiên của họ trước kia sống ở đồng bằng, sau đó bị các bộ tộc khác mạnh hơn xâm chiếm đất đai và họ phải chạy lên cao nguyên núi đá.
Cuộc sống trên cao nguyên khá vất vả, nhưng người Đôgôn không hề bị đối vị họ trồng trọt rất giỏi và biết hái lượn các thức ăn, rau quả trong rừng. nhà ở của họ hình hộp, bé nỏ. Tường nhà và mái nhà là đất nện. Trước nhà những vựa chứa lương thực (Sắn khô, hạt kê). Vựa có nắp đậy và phủ một chiếc nón rơm bên trên.
Giao thông đi lại trên cao nguyên khó khhawn, đi bộ là chủ yếu. Nhưng nơi gặp vách đá, họ phải dùng thân cây gỗ làm thang hoặc leo lên. Việc vận chuyển hàng hóa cũng dùng sức người. Họ đội hàng hóa trên đầu và khi gặp nhau thì chỉ chào hỏi mà không dám quay lại chào nhau, tay bắt mặt mừng, để giữ thăng bằng vật trên đầu.
Người Đôgôn có những tín ngưỡng và tập tục khác hẳn các bộ tộc khác ở Châu Phi xin kể một số như sau:
Truyền thuyết về vũ trụ và nguồn gốc tộc người Đôgôn: người Đôgôn có nững chuyện truyền khẩu từ đời này snag đời khác Mặt Trăng và Mặt Trời trên bầu có chung một mẹ sinh ra, song còn cha của Mặt Trời và Mặt Trăng thì không rõ.
Nguồn gốc người Đôgôn vốn có từ lâu đời. Thoạt đầu một con rắn thần sinh ra hai người đàn ông. Hai người này lấy vợ và sinh ra con, cháu, chắt và ngày nay bộ tộc người Đôgôn ngày càng đông đúc, sống trên khắp cao nguyên.
Người Đôgôn có một nền văn hóa cao. Họ theo đạo Hồi hoặc Thiên chúa giáo. Trong các hang động họ còn giữ lại nhiều tượng đá từ nhiều đời lưu lại, ví như tượng hai người, biểu tượng cho hai ông tổ của bộ tộc Đôgôn.
Bói toán qua con cáo: Người Đôgôn có tụ lệ bối toán qua con cáo do một thầy phù thủy trong làng phụ trách. Trong làng ai cũng muốn bói việc gì thì trình bày với ông ta từ sáng sớm. Buổi chiều ông xoa một bàn cát phẳng lỳ, vẽ trên đó các hình. Có thể ông đắp lên bàn cát một nắm cát và trên đó ông cắp một vài búp cây nhỏ. Ông ta chia bàn cát ra làm ba phần, phần thứ nhất bới về tình hình làm ăn, xem triển vọng xấu hay tốt, phần thứ hai bói cho tình hình con cái ; phần htuws ba đón về sức khỏe của người mẹ. Sau khi đã vẽ xong các hình, ông phù thủy đặt nhiều hạt lạc trên hình vẽ để nhử con cáo. Tối nào cũng vậy, vào quá nữa đêm co cáo tới “bàn bối toán” ăn lạc và sáng hôm sau, qua những vệt chân đi của con cáo, thầy phù thủy giải mã xem con cáo đã thông báo cho người những điều hay dở ra sao.
Con cáo cũng có những đêm không tới ăn lạc ở trên bàn bói toán vì con người làm nó sợ. Còn dân làng thì kính nở con cáo vì nó giúp cho con người biết được hậu vận và tương lai.
Lễ tang ở bộ tộc Đôgôn: tang lễ người Đôgôn thường kéo dài nhiều ngày và nghi lễ cũng phức tạp.
Mọi người trong gia đình, họ hàng tập trung xung quanh người xấu số. Người chết được cạo trọc đầu, thay quần áo đẹp và sạch sẽ.
Người chết được uống nước, phòng cho linh hồn không bị khát và tốt cho con cháu, người thân trong nhà gặp rủi ro.
Những phụ nữ khóc lóc thảm thiết, còn trẻ đi loan báo cho làng bên cạnh về tin buồn. Mỗi ngày có 5 người đeo mặt nạ, vừa dậm chân, vừa múa, vẻ mặt oai nghiêm, tay cầm chiếc gậy. Múa xong, họ thịt con gà để ăn.
Tang lễ kéo dài trong nhiều ngày tốn kém. Nhiều gia súc bị giết mổ (gà, lợn, dê…)
Tại làng Aru tang lễ lại tiến hành có phàn khác:
Thi thể người chết được tắm rửa sạch sẽ và được bôi các dầu, nhựa thực vật – Ruột người chết được thay thế bằng mật ong trộn lẫn nhựa cây, dầu thơm thực vật – Người chết được quấn vào một chăn lớn rồi đem đi chôn.
Ngoài ra, người Đôgôn còn có tục chôn cất đối với nam giới là nằm sấp, cìn phụ nữ thì nằm ngửa. Người Đôgôn coi đây là một tập tục cầu cho nòi giống phát triển.
Nguyễn Thái – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001

Du lịch văn hóa thế mạnh của Trà Vinh

Nằm ở phía Nam hạ lưu sông Mê kông, được bao bọc bởi sông Tiền và sông Hậu, đất Trà Vinh – nhìn từ trên cao xuống dọc ngang những dòng kênh rạch và giồng đất nối tiếp nhau như sống bể. Phong cảnh Trà Vinh xanh một mau cây, trá. Hòa với màu xanh của lá là màu xanh của biển. Biển Trà Vinh nước trong, cát trắng, không khí trong lành, mát mẻ. Đó chính là lý do để hàng ngàn người đã lựa chọn Ba Động và Mỹ Long – hai bãi biển đẹp nhất của Trà Vinh làm nơi nghỉ ngơi, thư giãn vào các kỳ nghỉ cuối tuần.
Nếu đến Mỹ Long vào dịp 11, 12 tháng 5 (âm lịch), du khách sẽ được sống trong không khí náo nhiệt của lễ hội Nghinh Ông (cúng biển). Lễ hội bắt đầu bằng những nghi lễ trang trọng: Lễ Nghinh Ông, lễ rước bà Chúa Xứ, rước Cậu… và sau đó là các trò chơi dân gian: nhảy bao, kéo co, đua bắt cá… cuối cùng, khi dân chài đưa tàu ra biển cũng là lúc lễ hội kết thúc. Đó là cách mà những người con của biển tỏ lòng biết ơn Cá Ông đã cứu giúp tàu thuyền đi biển gặp nạn.
Lễ hội Nghinh Ông không phải là lễ hội duy nhất ở Trà Vinh. 30% dân số là người Khmer đã làm nên một đời sống văn hóa đặc sắc cho Trà Vinh với nhiều lễ hội của dân tộc Khmer còn được lưu giữ đến ngày nay: Lễ hội Chôl – Chnam – Thmây – tết mùng năm mới được tổ chức vào tháng 4 (âm lịch) hàng năm; lễ hội Dolta – cúng ông bà diễn ra vào hai ngày cuối tháng 8 (âm lịch); Lễ hội Ok – om – bok mừng ngày mùa, để tổ chức tại Ao Bà Om và chùa ng vào ngày 15 tháng 3 (âm lịch) hàng năm…
Người Khmer ở Trà Vinh rất có ý thức giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống và bản sắc dân tộc. Chùa Khmer đồng thời cũng là trường học dạy chữ Khmer, phong tục, tập quán của người Khmer để thế hệ trẻ không bao giờ quên tổ tiên, cội nguồn của mình. Và, bài học đầu tiên bắt đầu bằng tên của các ngôi chùa: Chùa Cò Giồng Lớn với kiến trúc đặc sắc của nền văn hóa Khmer ở Trà Vinh- cổ kính, to lớn, mái uống cong theo hình đuôi rồng; Chùa Hang còn có tên là Mồng Rầy – kiến trúc cổng chùa tựa như một cái hang (từ hơn trăm năm nay, hai ngôi chùa là nơi cư trú của hàng chục chim đủ loại, đông nhất là họ nhà cò – cò trắng, cò đầu đỏ, cò mỏ vàng, cò mỏ đỏ…); Chùa ng – ngôi chùa cổ nhất 142 chùa Khmer ở Trà Vinh có sức hấp dẫn không chỉ vì kiến trúc độc đáo mà còn bởi chùa được sắp đặt hài hòa giữa cảnh sắc thiên nhiên của một rừng cây cổ thụ.
“Báu vật” của Trà Vinh ngoài chùa Khmer còn có đền thờ Bác Hồ, Ao Bà Om – danh thắng bậc nhất miền Tây và quần thể kiến trúc văn hóa Lưu Cừ (thuộc nền văn hóa Óc Eo, có niên đại từ thế kỷ I đến thế kỷ thứ V sau Công nguyên)… Có thể nói, thiên nhiên và lịch sử đã ưu ái cho Trà Vinh kho tiềm năng của loại hình du lịch đang phát triển hiện nay: Du lịch văn hóa, thám hiểm, nghiên cứu, về với cội nguồn…
Tận dụng thế mạnh của tỉnh nhà, Công ty Du lịch Trà Vinh với hệ thống nhà hàng, khách sạn có sẵn (Khách sạn Thanh Trà, Cửu Long được trang bị hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế) đã chú trọng đầu tư khai thác và phát triển dịch vụ du lịch lữ hành. Không chỉ có các tuyến tham quan di tích lịch sử và danh thắng, Công ty Du lịch Trà Vinh còn phối hợp với làng nghề truyền thống tổ chức những chương trình giới thiệu sản phẩm đặc trưng của Trà Vinh và vùng Đồng bằng Cửu Long như chiếu dệt, bánh tráng… Đến và mua quà ngay tại làng nghề luôn là một phần trong các tour du lịch do công ty tổ chức. Sự hợp tác này đã, đang và sẽ tiếp tục mở ra hướng phát triển mới cho cả du lịch và nghề truyền thống Trà Vinh.
Thế và lực, tiềm năng và cơ hội đã đưa Du lịch Trà Vinh trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.Trách nhiệm quan trọng này đang đặt cả lên vai Công ty Du lịch Trà Vinh. Trong tương lai, Công ty sẽ quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa về cơ sở vật chất và chất lượng phục vụ để Trà Vinh trở thành điểm du lịch hấp dẫn thu hút ngày càng đông du khách trong nước và quốc tế.
Hương Giang – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11 (176) – 2001

Ngọc khánh giữ mãi hình ảnh đẹp

Đã ba năm trôi qua, nhưng những giây phút trong đêm đăng quang hoa hậu của Ngọc Khánh vẫn còn in đậm trong ký ức của khán giả. Tôi nhớ lại không khí sôi động hôm chung kết ở Nhà thi đấu Phan Đình Phùng (Thành phố Hồ Chí Minh) lúc người dẫn chương trình quay micro xuống dưới khán đài hỏi: “Các bạn hãy đọc số báo danh của người xứng đáng đoạt hoa hậu?” Cả nhà thi đấu đồng thanh “72 – Ngọc Khánh”. Vâng, cô gái có chiều cao 172cm này đã chiếm trọn tình cảm của khán giả và Ban Giám khảo một cách thuyết phục như vậy, không phải vì cô đẹp nhất mà bằng chính sự thông minh, tự tin, sang trọng và có phần “lành lạnh”.
Là con gái út của cố đạo diễn Nguyễn Đỗ Ngọc và nghệ sĩ thổi kèn oboe Lê Thị Thắng, Ngọc Khánh sớm thừa hưởng ở người cha cái “máu” văn chương, thích viết, thích đọc. Ngay từ khi còn bé, Ngọc Khánh đã được bố đưa đến chơi nhà những người bạn hữu của ông ở Hà Nội. Đi nhiều rồi quen Khánh đâm trở thành bạn văn thân thiết của ông. Ngày bố còn sống,cứ mỗi lần viết xong kịch bản, Khánh lại là người đầu tiên được bố cho đọc bản thảo. Mới mươi tuổi đầu, Khánh đã là người phê bình nghiêm khắc của ông. Không chịu kém bố, Khánh cũng tập tành viết truyện, làm thơ. Thấy con gái cũng ham văn, thích thơ, bố tặng lại cho cô chiếc máy chữ vào dịp sinh nhật lần thứ 13. Năm ấy, bố Khánh mất, chiếc máy chữ trở thành vật kỷ niệm cuối cùng của Khánh về bố. Bây giờ đã là một người đẹp nổi tiếng, Khánh vẫn không quên được những kỷ niệm đẹp ấy.
Khi bố mất được một năm, mẹ con Khánh dắt nhau vào Nam. Những ngày đầu nhớ bố, nhớ Hà Nội da diết, Khánh chỉ còn biết lao vào học, và phút đăng quang hoa hậu toàn quốc 1998 là bước ngoặc trong cuộc đời của Khánh. Cô nhớ lại: “Mẹ vui lắm, chỉ còn biết tặng hoa và khóc. Mẹ là người đã khuyến khích Khánh đến với cuộc thi rất nhiều. Mẹ bảo con gái bây giờ không những phải tự lập mà còn phải biết khẳng định mình. Trở thành hoa hậu đã khó, giữ được còn khó hơn”. Mang tâm niệm đó, ba năm qua trên cương vị hoa hậu, rồi cựu hoa hậu, Khánh đã dốc sức để tự hoàn thiện và xứng đáng với danh hiệu cao quý đã có. Mặc dù là tiếp viên hàng không phải đi bay thường xuyên nhưng Khánh vẫn tốt nghiệp trường Luật vào loại khá. Bên cạnh đó Khánh còn tham gia các hoạt động xã hội: làm từ thiện, diễn thời trang, làm M.C… Chính những công việc đó đã làm Khánh cảm thấy giảm bớt đi rất nhiều stress trong cuộc sống hàng ngày.
Có một điều ít ai biết đến là trong lịch sử hoa hậu Việt Nam, cùng với Bùi Bích Phương (hoa hậu 1981), Ngọc Khánh là một trong những hoa hậu quốc gia có thể nói thuần tục được 4 ngoại ngữ.Cô được xem như hình mẫu về hoa hậu Việt Nam thế hệ mới: có sắc đẹp, có đầu óc thông minh và hiểu biết, có khả năng thể hiện mình một cách thoải mái, tự tin. Là một phụ nữ hiện đại, Ngọc Khánh không chỉ dừng lại ở đó mà cô còn có nhiều tham vọng tiến xa hơn nữa. Đối với cô, các cuộc thi hoa hậu uy tín chính là những chiếc chìa khóa để bước vào một môi trường phóng khoáng và tới những cơ hội. Chính vì vậy, cô đã nhận lời mời đại diện cho Việt Nam đến tham dự cuộc thi Hoa hậu Hoàn Vũ (Miss Universe 2001) tại Puerto Ricco vào cuối tháng 5 này.
Trương Hoàng Phú – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 15(180)2001

Khi các nhạc sĩ làm – Phần 2

Những năm gần đây, một số nghệ sĩ cũng có ý hoặc không đã cho ra đời một số ca khúc du lịch được người nghe thích thú như: “Vũng Tàu biển hát”, “Đêm Chư P – ông” (Vũ Thanh), Đêm trăng rừng (Cúc Phương)” (Vân Đông), “Cúc Phương ơi (Trần Trung), “Sa pa thành phố trong sương” (Vĩnh Cát), “Tình ca Sầm Sơn” (Nguyễn Đình Sang)… Những bài hát đã tạo dựng được cảnh đẹp độc đáo của thiên nhiên, mang những nét đẹp rất riêng biệt của từng vùng khiến ai chưa đặt chân tới thì háo hức muốn tới, ai tới rồi thì thấy cảnh vật mới nên thơ mà hữu tình làm sao1
Ngày nay, khi du khách đến một địa danh du lịch nào đó, bên cạnh việc hướng dẫn viên giới thiệu, thuyết minh về địa lý, lịch sử nguồn gốc … lại có một bài hát hay về địa danh đó vang lên chắc chắn họ sẽ cảm thấy thú vị thêm rất nhiều. Cho đến nay mặc dù chưa có những cuộc điều tra thăm dò ý kiến du khách về việc nhận xét đánh giá những nhạc sĩ có những sáng tác về địa danh du lịch nhưng tin rằng, những nhạc sĩ đó có những tác phẩm hay gắn với những vùng đất du lịch sẽ được du khách yêu mến nhất.
Cười một tý
Khách sạn chưa đủ cao…
Một du khách bước vào một khách sạn lớn, hỏi ông chủ khách sạn:
– Các phòng ở đây giá bao nhiêu?
– Ở gác 1 là 10 đô la, gác 2 là 15 đô la, gác 3 là 20 đô la còn gác chót là 25 đô la.
– Thật đáng tiếc khách sạn của ngài chưa đủ cao.
Ở đây nói đủ mọi thứ tiếng
Một khách du lịch nước ngoài tới một khách sạn ở Hà Nội. Trước cửa khách sạn có biển đề:”Ở đây nói đủ mọi thứ tiếng”.
Ông ta liền nói với với chủ khách sạn bằng tiếng Anh, tiếng Pháp rồi tiếng Ý. Chờ mãi không thấy trả lời gì cả anh ta liền nói bằng tiếng Việt:
– Vậy ở đây ai nói được mọi thứ tiếng ?
Chủ khách sạn bình thản đáp: – Các di khách.
Thư giãn lợi
– Tại sao anh thích những cuộc đua xe trái phép?
– Vì nó mang lại lợi nhuận cho tôi.
– Anh buôn xe máy à?
– Không tôi chuyên bán quan tài.
Cười một tý bói
– Tôi đi coi hai ông thầy bói, ông này khuyên tôi nên góp ý thẳng những khuyết điểm của sếp, ông kia khuyên tôi nên chuyển công tác, tôi không biết theo ai?
– Vậy thì anh nên góp ý thẳng với sếp anh sẽ được cả hai.
Bích Loan – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Khi các nhạc sĩ làm – Phần 1

Trong kinh doanh du lịch có một hình thức tuyên truyền giới thiệu rất hấp dẫn và có hiệu quả về các địa danh du lịch đó là những ca khúc. Những ca khúc là bức tranh vẽ toàn những vùng du lịch không phải bằng màu sắc, hình khối mà bằng âm thanh.
Những bài hát muốn tuyên truyền tốt cho du lịch, giai điệu phải trữ tình, lãng mạn, ngôn ngữ âm nhạc phải mang rõ tính chất, phong vị thiên nhiên nới đó để nếu tước bỏ phần lời, chỉ nghe nhạc cũng có thể hình dung rất rõ cảnh giàu chất thơ, biểu hiện sâu sắc xúc cảm dào dạt, tình yêu thiên nhiên của con người trước bức tranh diễm huyền đó. Những bài hát về địa danh, vùng du lịch nổi tiếng được công chúng truyền tụng như “Nha Trang mùa thu lại về của Văn Ký, “Huyền thoại Hồ Núi cốc” của Phó Đức Phương, “Hà Tây quê lụa” của Nhật Lai, “Nhớ mùa thu Hà Nội” của Trịnh Công Sơn… Khi sáng tác những bài hát này các nhạc sĩ thường không có ý rằng việc sáng tác là để phục vụ, tuyên truyền cho ngành du lịch mà chỉ đơn thuần do cảm hứng trước vẻ đẹp thiên nhiên khiến cho trái tim tràn đầy hạnh phúc cảm xúc của họ trăn trở, nung nấu rồi tìm ra cách biểu hiện gần gũi nhất để đến với mọi người.
Trên đất nước Việt Nam ta có lẽ không có một thành phố nào miền đất nào lại có nhiều bài hát hay như Hà Nội. Hà Nội đã thu hút sức sáng tạo đặc biệt của giới Nhạc sĩ Trần Hoàn với đêm Hồ Gươm, Trọng Đài với Hà Nội đêm trở gió , Hoàng Hiệp với Nhớ về Hà Nội, Ngọc Khuê với mùa xuân làng lúa làng hoa”, Phú Quang với Hà Nội phố”… Ở mỗi bài hát là một ngôn ngữ âm nhạc khác nhau với nhiều phong cách khác biệt nhưng đều tạo ra được một Hà Nội cổ kính, tao nhã, thanh lịch, hào hoa mà tha thiết đắm say. Và thật không ngờ khi nói rằng muốn tìm hiểu về lịch sử, văn hóa, thiên nhiên, con người Hà Nội chỉ cần nghe những ca khúc Hà Nội cũng có thể hiểu hết được. Trong làng âm nhạc Việt Nam, người “có duyên” sáng tác về các địa danh du lịch phải kể đến nhạc sĩ Phó Đức Phương, bởi anh có nhiều sáng tác gắn với những địa danh du lịch nổi tiếng. Được mệnh danh là ông vua sáng tác về hồ như:”Huyền thoại hồ núi cốc”, “Một thoáng tây hồ”, “Hồ Ba Bể”… Dù chưa một lần đặt chân đến hồ Núi Cốc nhưng khi lời ca trong “Huyền thoại Hồ Núi Cốc” vang lên, ta như thấy cả một vùng non nước thấm đẫm chất huyền thoại hiện thực nên thơ, huyền ảo. Nếu trực tiếp được “bồng bềnh” trên vùng núi cao nước sâu để thuyền trôi mái chèo trôi nhanh dưới chân Tam Đảo mà nghe bài ca này thì dù lời của hướng dẫn viên có ngọt ngào, thánh thót mấy, cũng không lây động được du khách bằng lời bài hát được. Nhạc sĩ Phó Đức Phương kể rằng nhiều người tâm sự với anh, khi nghe bài hát họ chỉ muốn đến ngay để được đắm mình vào khung cảnh thiên nhiên thả hồn vào mối tình lãng mạn. Và có lần trở lại ở Hồ Núi Cốc, Phó Giám đốc của khách sạn Công Đoàn Hồ Núi Cốc đã nói một nhạc sĩ rằng: “Từ ngày ngành du lịch này ra đời không một ngày nào họ không cho phát bài. Nhờ có bài hát mà lượng khách đến hồ núi cốc tăng lên không ngừng”.
Nhiều địa danh, nhiều điểm du lịch hay những nét đẹp văn hóa… mà trước mỗi khi đến du khách đều muốn khám phá, tìm hiểu. Nhưng vì một lý do nào đó chúng bị mai một hoặc mất đi. Lúc này chính nhờ những ca khúc mà những địa danh nét đẹp đó được sống cùng năm tháng ăn sâu vào tâm tưởng của mỗi người. Nghề dệt lụa nổi tiếng ở Hà Tây giờ đang sống trong tình trạng thoi thóp , nhưng những làng lụa ấy vẫn luôn là biểu tượng đẹp của mảnh đất Hà Tây bởi nhạc sĩ Nhật Lai đưa nghề dệt lụa ấy vào trong sáng tác nổi tiếng “Hà Tây quê lụa”, “Bóng chiếc thoi đưa” vẫn hiện lên trên khắp “trời đất Hà Tây”, trên những dòng sông “Tích”, sông Đà. Đất nước đã thống nhất, nhưng nếu có dịp du lịch đến cầu Hiền Lương chỉ cần nghe lời ca da diết “Câu hò bên bến Hiền Lương” của nhạc sĩ Hoàng Hiệp ta vẫn thấy quặn đau với cảnh đất nước chia lìa, Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, chắc hẳn cũng chỉ là một du khách cảm hứng trước vẻ đẹp của thủ đô Hà Nội mà cho ra đời bài hát “Nhớ mùa thu Hà Nội”. Những nét đẹp như “Phố xưa nhà cổ”, mái ngói thẫm nâu”, ‘mùa cốm xanh về thơm bàn tay nhỏ, cốm sữa vỉa hè thơm bước chân qua” bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời” – giờ đã mai một hoặc không còn nữa. Nhưng nghe bài hát du khách thấy hình ảnh thủ đô Hà Nội được thu nhỏ vào đó, và thấy đáng trân trọng biết bao.
Bích Loan – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Khởi sắc lữ hành

Năm 2000 hoạt động kinh doanh lữ hành đã có khởi sắc và phát triển tương đối toàn diện đúng hướng, có hiệu quả.So với năm 1999 lượng khách quốc tế với 2.130.000 lượt, khách nội địa với hơn 11 triệu lượt. Tính đến nay toàn ngành du lịch đã có 109 công ty lữ hành quốc tế và trên 300 công ty lữ hành nội địa. Các công ty lữ hành đã thiết lập các công trình chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp với khách hoặc gián tiếp qua các địa lý hoặc văn phòng đại diện. Đa số các công ty lữ hành đã nghiêm chỉnh chấp hành các chủ trương, chính sách của Nhà nước, quy chế của ngành và tích cực nghiên cứu nở rộng thị trường các công ty đã có quan hệ với hơn 800 hãng của hơn 50 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Các thị trường có nhiều khách đến Việt Nam là: Trung quốc (đường bộ), các nước trong khối Asean, Mỹ, Đài Loan, Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Anh, Úc…
Trong cơ chế thị trường phải cạnh tranh quyết liệt các công ty lữ hành quốc tế đã cố gắng tự khẳng định mình đóng vai trò chủ lực đón khách vào Việt Nam. Nhiều công ty đã đầu tư cho hoạt động tiếp thị, quảng bá, ký kết hợp đồng trao đổi khách. Có công ty ký được trên dưới 100 hợp đồng với các hãng du lịch nước ngoài thông qua việc tích cực tham gia nhiều Hội chợ quốc tế như: Travex (Thái Lan), ITB 2000 (Đức), Topresa 2000 (Pháp), Thượng Hải (Trung Quốc)… và mở nhiều chiến dịch phát động thị trường tại Úc , Nhật Bản, Hàn Quôc… Các địa phương biên giới Trung Quốc cùng với Hải Phòng, Hà Nội đã tích cực khai thác khách Trung Quốc đến bằng thẻ du lịch. Tại Hải Phòng khách Trung Quốc đạt 15.057 lượt, chiếm 78% khách quốc tế. Khách lữ hành tăng gấp rưỡi so với năm 1999. Các tỉnh thành như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bà Rịa Vũng Tàu, Quảng Ninh, Hải Phòng đã tích cực khai thác khách tàu biển. Ở Đà nẵng khách tàu biển vào tăng nhanh. Các công ty cùng với các địa phương chú trọng mở các loại hình du lịch văn hóa, sinh thái, cảnh quan môi trường làm phong phú các loại hình du lịch, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tạo ra không khí sôi động thu hút được nhiều khách.
Công tác quản lý kinh doanh lữ hành có chuyển biến tích cực, giải quyết thủ tục gia hạn giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế gần 50 doanh nghiệp, giải quyết thủ tục cấp mới 217 và đổi 155 thẻ hướng dẫn viên du lịch. Phối hợp giải quyết vướng mắc về thủ tục trong hành chính kinh doanh lữ hành (khách đến theo phương tiện đường bộ và một số loại hình du lịch liên quan đa ngành tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khai thác được nhiều khách. Đáng chú ý là Nhà nước đã cho mở thêm nhiều đường bay mới để hỗ trợ đón khách lữ hành. Nhờ chú trọng đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ lữ hành nên tỷ lệ đội ngũ cán bộ có trình độ đại học chiếm trên 70%. Đội ngũ hướng dẫn viên có nghiệp vụ được cấp thẻ khá đông. Công tác kiểm tra hoạt động lữ hành được quan tâm thường xuyên.
Tuy nhiên kinh doanh lữ hành vẫn còn một số khó khăn yếu kém. Một số tổ chức, cá nhân không có giấy phép kinh doanh vẫn kinh doanh lữ hành quốc tế (do họ được phép làm đầu mối duyệt nhân sự cho khách vào với mục đích khác). Tình trạng trốn thuế hạ giá tour, gây tranh cãi cạnh tranh không lành mạnh vẫn diễn ra.
Các công ty lữ hành nội địa không được phép kinh doanh vẫn nhảy sang kinh doanh lữ hành quốc tế, nên kinh doanh và dịch vụ đều yếu, thường chỉ làm dịch vụ visa. Một số công ty lữ hành quốc tế yếu kém không thực hiện đúng quy chế quản lý lữ hành và hướng dẫn viên, thường chỉ làm dịch vụ visa hoặc cho tư nhân, tổ chức cá nhân nước ngoài núp bóng kinh doanh trái phép mà ngành du lịch chưa kiểm tra, xử lý xuể, gây cạnh tranh không lành mạnh. Hướng dẫn viên còn hạn chế về ngoại ngữ và am hiểu lịch sử văn hóa. Chất lượng sản phẩm du lịch chưa cao. Các điểm di tích danh lam thắng cảnh tuy có tôn tạo nhưng nhiều nơi khai thác còn ở dạng tự nhiên. Môi trường vệ sinh trật tự nhiều điểm du lịch vẫn chưa được giữ gìn. Tệ ăn xin chèo kéo khách\, trấn lột khách vẫn còn diễn ra ở một số nơi. Cơ sở vui chơi giải trí còn ít. Trước tình hình trên trong năm 2001 và những năm tiếp theo công tác lữ hành và kinh doanh lữ hành phải có bước chuyển biến mạnh mẽ. Các công ty lữ hành phải được tổ chức lại và đổi mới phương thức hoạt động. Những công ty có khả năng kinh doanh lữ hành, khách sạn vận chuyển khách phải có bộ phận chuyên doanh đủ mạnh, được tổ chức thành trung tâm tương đối độc lập.
Tăng cường quảng bá tiếp thị trong và ngoài nước rộng rãi đến các cơ quan xí nghiệp trường học. Xây dựng những tour mới với giá cả phù hợp với từng đối tượng và tour ngắn ngày phục vụ hai ngày nghỉ cuối tuần. Thực hiện giảm chi phí visa cho khách tàu biển, mở thêm cửa khẩu đốn khách Trung Quốc ở các địa bàn có điều kiện. Cải tiếng hơn nữa các thủ tục tạo sự thuận lợi cho du khách, mở rộng diện visa cửa khẩu. Khách vào cửa khẩu này có thể ra cửa khẩu khác . Có hình thức tổ chức du lịch cho khách quá cảnh, tạo điều kiện cho khách mang phương tiện vào Việt Nam. Nối tour đón khách quốc tế về địa bàn mình. Cần tìm ra những nét đặc thù thế mạnh của mình, có những đối tác có nguồn khách riêng để có sản phẩm phù hợp. Tăng cường mở rộng thị trường, tìm thị trường mới. Coi trọng khai thác thị trường Trung Quốc, Asean, Châu âu, Bắc Mỹ, Nhật, Mỹ La Tinh, Úc…
Thu Hương – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001