Mưa lũ gây thiệt hại cho nhiều tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên

Trên 22.000 người cần được trợ cứu đói khẩn cấp
Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành khẩn trương giúp các địa phương khắc phục hiệu quả.
Đến chiều 2-8-1999 đã thông xe trên tất cả tuyến đường
Trong những ngày cuối tháng 7, đầu tháng 8 vừa qua, do mưa lớn kéo dài và lũ ở thượng nguồn đổ về dữ dội đã gây thiệt hại lớn về người và của đối với nhiều tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
Tại Đồng Nai, một số vùng đã bị ngập lụt nặng, trong đó có 3.931 căn nhà bị ngập, 55 nhà bị sập, 3.209 ha lúa bị ngập sâu, hơn 1.000 ha cây ăn trái và cây lâu năm bị ảnh hưởng cho lũ quét. Mưa lũ đã làm chết, mất tích 7 người, cuốn trôi 14 cây cầu và gần 20 km đường giao thông bị ngập.
Đặc biệt, tại Bình Thuận, tính đến 3-8-1999 có 30 người bị chết, 5 người bị mất tích, 11.191 căn nhà bị lũ tàn phá, trong đó 1.128 căn bị cuốn phăng không còn dấu vết, thiệt hại toàn tỉnh khoảng 165 tỷ đồng.
Theo thống kê sơ bộ, mưa lũ cũng đã gây thiệt hại lớn cho hệ thống giao thông ở các tỉnh Đồng Nai, Bình Thuận, Lâm Đồng, Đắk Lắk. Trên quốc lộ 1A có 3 cầu bị cuốn trôi (cầu sông Cát, sông Phan và sông La), trên quốc lộ 14 có 1 cống bị cuốn trôi. Lũ cũng làm nhiều đoạn đường thuộc quốc lộ 1, 14 và 55 bị sạt lở nền móng, mặt đường và bờ ta-luy.
Hiện tại các địa phương bị lũ lụt có trên 22.000 người đang ở trong cảnh “màn trời chiếu đất” cần được cứu đói khẩn cấp.
Ngay sau khi biết tin có mưa lũ gây thiệt hại nặng về người và tài sản tại các tỉnh, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ đã có điện yêu cầu các Bộ, ngành phối hợp với các địa phương khẩn trương khắc phục hậu quả, nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống nhân dân. Sáng 2-8-1999 đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Phó thủ tướng thường trực Chính Phủ dẫn đầu đoàn công tác của Chính phủ (gồm đại diện các Bộ, ngành liên quan) đến thăm và chỉ đạo khắc phục hậu quả những vùng bị lũ lụt của tỉnh Bình Thuận – nơi bị ảnh hưởng nặng nhất.
Nhờ các biện pháp khắc phục kịp thời về giao thông, đến chiều 2-8-1999 đã thông xe trên tất cả tuyến đường bị mưa lũ. Nhiều địa phương, đơn vị và cá nhân trong cả nước đã phát động phong trào ủng hộ giúp đỡ nhân dân vùng bị thiên tai.
T.H – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000

Trung tâm nghiên cứu lâm sinh Lâm Đồng

Cuộc tranh cãi chỉ tạm lắng xuống khi hai nhà khoa học người Mỹ là Litenle và Krisphind đưa ra luận điểm: Đây là giống Ducanpopinus hóa thạch sống là một hóa thạch sống của một loài thực vật cổ sinh rất có rất có thể sinh cùng thời với khủng long. Có nghĩa là từ hàng triệu năm trước, tất cả đã biến mất sau những cơn thiên địa đổi dời, nhưng vẫn còn một kẻ “hóa thạch sống” để sống sót đến ngày nay là thông hai lá dẹt. Chính nhờ vậy mà các nhà khoa học ngày nay mới có thể tìm ra mối quan hệ giữa thực vật cổ và thực vật hiện đại. Một viện sĩ hàn Lâm Liên Xô cũ – ông A. Tastagsceh từng ao ước: “Tôi chỉ muốn sang ngay Việt Nam và sờ tay lên cây Pinus Krempfii rồi chết cũng mãn nguyện!”. Xem ra chuyến đi giả làm du khách của tôi không phải là vô ích. Và chắc chắn nhiều du khách thực sự cũng muốn biết nếu tuyến du lịch lên Cổng Trời được mở ra.
Du lịch cổng trời, tại sao không?
Đứng trên Cổng Trời, bên cây thông hai lá dẹt đầy bí ẩn, hết nhìn xuống hồ suối Vàng – Dankia mơ màng trong làn sương trắng bạc, tôi lại nhìn về phía xa, nơi có dòng sông Krôngnô ắp đầy huyền thoại. Sông Krôngnô là ranh giới tự nhiên của hai tỉnh Lâm Đồng và Đắc Lắc. Nó như con rắn khổng lồ uốn mình qua những quả núi cao ngất, như dải lụa trắng muốt của tiên nữ đánh rơi dưới trần đang phất phơ trong gió. Hai bên bờ là những mái nhà sàn của các tộc người Mnông, Êđê, Chill, Lạch… Đó là những tộc người rất giàu sức tưởng tượng. Và đời sống văn hóa của họ vì thế cũng rất phong phú, bí ẩn tựa như những bí ẩn của các loài động, thực vật nơi đây. Buổi trưa, trong bữa… cơm chỉ có bánh mì và nước suối ở giữa rừng, tôi đem câu chuyện về nàng Y Sao và trăn thần (trích từ kho truyền thuyết ở quần sơn này) ra kể để mọi người cùng nghe. Một anh bạn trẻ trong đoàn là cán bộ của Trung tâm nghiên cứu lâm sinh Lâm Đồng tròn mắt: “Giá như lúc này đây, bạn là một du khách thực sự và tôi là một hướng dẫn viên du lịch đích thực thì chắc chắn rằng sẽ có nhiều câu chuyện thú vị hơn vậy!”. Ấy là tôi nói thế, là viễn cảnh mà tôi tự vẽ ra mà thôi. Còn trong thực tế cho đến lúc này, tuyến du lịch trên có lẽ vẫn chưa nằm trong ý đồ của các nhà quản lý lẫn các nhà kinh doanh du lịch. Tuy nhiên, với riêng tôi, qua chuyến đi này vẫn hy vọng rằng trong tương lai Cổng Trời sẽ là một điểm du lịch. Du lịch lên Công Trời, tại sao không? Điều đó có chủ quan? Nhưng tôi biết chắc chắn rằng du lịch Đà Lạt nói riêng và Lâm Đồng nói chung đang thừa mức nhà nghỉ, khách sạn trong khi các loại hình du lịch sinh thái – văn hóa – thể thao đang rất thiếu. Chiều tối về lại Đà Lạt, nhìn những khách sạn, nhà nghỉ chen nhau mọc lên với các kiểu đèn màu nhấp nháy, trong tôi có cảm giác gai gai thế nào ấy! Và một lần nữa mùa xuân chạm cửa trong tôi lại bật ra câu hỏi. Du lịch lên Cổng Trời, tại sao không? Đà Lạt, xuân 1999.
Khắc Dũng-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Cảnh quan du lịch chưa được quy hoạch đầu tư khai thác đúng mức

Để khắc phục những thủ tục còn gây phiền hà cho doanh nghiệp và du khách.
Sau gần một năm đi vào cuộc sống, Pháp lệnh du lịch đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Bên cạnh đó vẫn còn một số khó khăn vướng mắc. Phóng viên báo Du lịch đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Quang Duy giám đốc Công ty du lịch dịch vụ Dầu khí Việt Nam xung quanh những vấn đề nêu trên.
Phóng viên: Thưa ông, những vướng mắc về cơ chế, chính sách hiện nay là gì?
Ông Phạm Quang Duy: Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam, những năm gần đây mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, cơ chế mới phù hợp hơn, nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp, nhưng để có được môi trường kinh doanh lành mạnh thuận lợi cho các doanh nghiệp thi đua phát triển thì vẫn còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục điều chỉnh. Cụ thể là chúng ta còn chưa cụ thể hóa kịp thời quan điểm, đường lối chính sách đổi mới của Đảng vào việc quản lý kinh tế và xã hội, quản lý doanh nghiệp. Nhiều khi luật, nghị quyết đã có những việc hướng dẫn thi hành cũng chưa kịp thời, thí dụ pháp lệnh du lịch đã có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5 năm 1999, nhưng đến nay vẫn còn đang dự thảo văn bản hướng dẫn và chưa biết đến khi nào sẽ xong. Trong khi đó văn bản cũ thì đã hết hiệu lực.
Phóng viên: Ông có thể cho biết rõ hơn về những khó khăn trong lĩnh vực kinh doanh du lịch?
Ông Phạm Quang Duy: Khó khăn của doanh nghiệp kinh doanh du lịch có rất nhiều vì hoạt động du lịch liên quan trực tiếp đến nhiều ngành, nhiều địa phương … Nếu chỉ có ngành du lịch cố gắng thì chưa đủ để có sản phẩm du lịch hấp dẫn, chưa đủ để giải quyết những khó khăn như: môi trường du lịch còn lộn xộn, cạnh tranh phức tạp giữa các doanh nghiệp và các cá nhân hoạt động “chui”, cảnh quan du lịch chưa được quy hoạch đầu tư khai thác đúng mức, vệ sinh chưa tốt… Và điều ai cũng thấy nhức nhối là tệ nạn đeo bám, bán hàng, ăn xin, trộm cắp, gây phiền hà cho khách du lịch hiện nay. Những vấn đề đang quan tâm lâu dài là cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp để khắc phục những thủ tục do chính chúng ta đặt ra hiện nay, mà từ những thủ tục đó dễ bị lợi dụng để gây phiền hà cho doanh nghiệp và du khách. Ví dụ: Doanh nghiệp đã và đang hoạt động nhưng hàng năm vẫn còn phải xin cấp nhiều loại giấy tờ như: “giấy chứng nhận đủ điều kiện an ninh trật tự để làm nghề kinh doanh đặc biệt”. Muốn có giấy chứng nhận trên thì phải xin “giấy chứng nhận đủ điều kiện về phòng cháy chữa cháy”. Trong khi cả hai loại giấy này đều do một cơ quan chức năng cấp. Công tác thanh tra kiểm tra còn do nhiều cơ quan cùng có quyền thực hiện nhưng mới chú trọng xử phạt mà thiếu biện pháp hỗ trợ giúp doanh nghiệp khắc phục khó khăn. Về những lĩnh vực khác, chúng tôi thấy cũng cần phải sớm có điều chỉnh. Hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp nhà nước đang ở tình trạng dôi dư lao động nhưng lại rất thiếu lực lượng, lao động trẻ, năng động có chuyên môn, ngoại ngữ giỏi. Việc giải quyết lao động dôi dư và bổ sung lao động giỏi gặp nhiều khó khăn do bị cơ chế trói buộc, gây ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chế độ tiền lương theo nghị định 26/CP cũng chưa hợp lý: Muốn có đơn giá tiền lương, doanh nghiệp phải có lợi nhuận, nghĩa vụ nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước, hàng năm lại quy định mức tiền lương bình quân chung 900 nghìn đồng không được vượt quá 2 lần… dẫn đến thu nhập đời sống người lao động thấp, không những không thu hút được người giỏi mà còn mất dần nhân tài. Chúng tôi rất mong những khó khăn trở ngại hiện nay, vừa nêu sẽ sớm được khắc phục.
Phóng viên: xin cảm ơn ông.
Ngô Mạnh Hùng -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Nước khoáng Mỹ Á đạt tiêu chuẩn vệ sinh Hòa Kỳ

Tháng 8 năm 1996, một đoàn du khách Mỹ trong đó có Tom Robery và Johnny Davidson là hai chuyên gia thuộc Hiệp hội ngành nước Hoa Kỳ vào Việt Nam. Trên hành trình từ Phan Rang lên Đà Lạt dọc theo quốc lộ 27 đến km 37 thuộc địa phận xã Tân Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, đoàn đã ghé vào khu du lịch của công ty Trách nhiệm hữu hạn Tân Mỹ Á để tắm nước khoáng nóng trong những bể chứa mà Công ty vừa xây dựng. Khi ra đi, Tom và Johnny đã mang theo mấy chai nước khoáng làm mẫu. Ba tháng sau, Công ty Tân Mỹ Á nhận được thư từ Hiệp hội ngành nước Hoa Kỳ cho biết kết quả xét nghiệm, nước khoáng Mỹ Á đạt tiêu chuẩn vệ sinh Hòa Kỳ, đồng thời AWWA gửi kèm trong thư hồ sơ cùng lời đề nghị Tân Mỹ Á gia nhập hiệp hội. Xét thấy việc đáp ứng đề nghị của AWWA phù hợp với những chính sách đối ngoại mà Đảng và Chính phủ chủ trương, có lợi cho việc kinh doanh của Công ty, thêm điều kiện để các sản phẩm thương mại Việt Nam hội nhập thị trường quốc tế, Tân Mỹ Á tiến hành hoàn chỉnh hồ sơ. Căn cứ vào đó, ngày 13 tháng 8 năm 1997 Hiệp hội ngành nước Hoa Kỳ quyết định công nhận công ty Trách nhiệm hữu hạn Tân Mỹ Á của Việt Nam là thành viên. Giấy chứng nhận mang số hiệu là 396614 do ông chủ tịch hiệp hội ký. Xét nghiệm tính chất hóa lý cho thấy nước khoáng Mỹ Á đạt tiêu chuẩn vệ sinh Của Tổ quốc y tế thới giới. Còn xét nghiệm của Viện Pasteur thành phố Nha Trang ngày 12 tháng 10 năm 1999, kết luận: Nước khoáng Mỹ Á thuộc loại vi lượng khoáng Na và Si tinh khiết, không chỉ tốt cho nhu cầu giải khát mà còn cung cấp các vi lượng khoáng cần thiết cho cơ thể con người như Calcium, Natri, Kali, Magne, Clor, Fluor với hàm lượng tổng cộng là 322 mg cho một lít. Theo quy hoạch khu đất rộng từ 22.720 mét vuông sát kề quốc lộ 27 sẽ được công ty xây dựng thành một khu du lịch, với một nhà máy sản xuất nước khoáng, sản lượng là 15.450.000 lít vào năm 2000 và cứ mỗ năm sau sẽ tăng thêm 10 triệu lít, một cụm nhà nghỉ, một khu bể bơi hồ ngâm, khu nhà hàng, khu dịch vụ… Nước khoáng nguyên liệu được lấy từ mỏ giếng khoan sâu 32 mét dẫn về nhà máy. Môi trường mỏ trong sạch, chung quanh là rừng núi, không có dân cư sinh sống và không có tác nhân nào gây ảnh hưởng xấu đến nguồn nước. Sau 4 năm 1996 đến 1999 triển khai thực hiện dự án chưa hoàn chỉnh, nhưng từ những công trình đã đưa vào sử dụng, người dân Ninh Thuận cùng nhiều du khách thập phương đã được biết đến một Mỹ Á dưới chân hòn Bà lý thú, rất có lợi cho sức khỏe.
Hoàng Tín-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Nhộn nhịp lễ hội Du lịch Quảng Ninh 2000

Ngày 1 tháng 5 năm 2000, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã chính thức khai mạc Lẽ hội Du lịch Quảng Ninh năm 2000 nhân kỷ niệm 5 năm, ngày vịnh Hạ Long được Tổ chức Unesco công nhận là Di sản thế giới, đồng thời khai trương mùa du lịch hè năm 2000. Về dự lễ hội các đại biểu của các ban, ngành Trung ương, tỉnh Quảng Ninh, các tổ chức quốc tế và lãnh đạo nhiều địa phương khác. Thực chất lễ hội đã được diễn ra từ ngày 28 tháng 4 với nhiều hoạt động sôi nổi: thi Hướng dẫn viên du lịch tỉnh Quảng Ninh với 62 thí sinh tham dự, Triển lãm ảnh nghệ thuật Hạ Long, thi múa Rồng – Lân, cùng hoạt động thể thao, văn hóa văn nghệ khác… thu hút hàng vạn du khách quốc tế, trong nước tham dự. Khu du lịch Bãi Cháy rực rỡ cờ, hoa, những dòng người nườm nượp từ các nơi đổ về dự hội. Trong các ngày này, hệ thống khách sạn ở đây hoàn toàn kín chỗ. Tại lễ khai mạc chính thức sau khi kiến thức tiếng trống khai hội hàng trăm chiếc tàu du lịch diễu hành trên mặt Vịnh, biểu dương sức mạnh, sẵn sàng ra khơi phục vụ du khách, một lần nữa khẳng định lời mời chào nồng nhiệt: “Việt Nam, Vịnh Hạ Long – Di sản thế giới, điểm đến của Thiên niên kỷ mới”. Các hoạt động hoành tráng: Màn múa Rồng – Lân, đua thuyền, kéo dù… đã diễn ra đồng loạt ven bờ Bãi Cháy và trên mặt Vịnh. Theo dự kiến của các nhà quản lý, năm 2000, Vịnh Hạ Long sẽ đón lượng khách vượt xa con số 1 triệu Ủy ban nhân dân tỉnh, ngành Du lịch Quảng Ninh và các ban, ngành Du lịch Quảng Ninh và các ban, ngành liên quan đang tích cực chuẩn bị và triển khai các hoạt động cần thiết, nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, bảo đảm cho du khách đến thăm Vịnh Hạ Long thật sự thoải mái, an toàn. Thành công của Lễ hội Du lịch Quảng Ninh năm 2000 mở đầu đầy ấn tượng cho mùa du lịch năm 2000.
Tăng gấp đôi quỹ thưởng xuất khẩu
Theo Bộ Thương mại, năm 2000 quỹ thưởng xuất khẩu sẽ tăng gấp đôi năm 1999, khoảng từ 8 đến 10 tỷ đồng. Qũy được dành để thưởng cho các doanh nghiệp có mặt hàng đặc chủng, loại mặt hàng lần đầu tiên tiêu thụ ở thị trường xuất khẩu mới, kim ngạch từ 100 nghìn đô la Mỹ, riêng doanh nghiệp ở miền núi từ 50 nghìn đồng trở lên. Đồng thời thưởng cho các doanh nghiệp có thành tích mở rộng thị trường xuất khẩu đã có hoặc mở thêm thị trường mới có hiệu quả với mức tăng trưởng kim ngạch là 20%, riêng các tỉnh miền núi và hải đảo là 15%, các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng chất lượng cao được huy chương tại các hội chợ triển lãm quốc tế tổ chức ở nước ngoài hoặc được các tổ chức chất lượng hàng hóa quốc tế cấp chứng chỉ hoặc xác nhận bằng văn bản. Cuối cùng là các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng gia công chế biến bằng nguyên liệu trong nước chiếm 60% giá trị trở lên, hoặc mặt hàng sản xuất thu hút nhiều lao động trong nước với kim ngạch từ 10 triệu đô la Mỹ cho một năm trở lên.
Hỏa Tiễn -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Tiếp tục đẩy mạnh tiến độ cổ phần hóa trong ngành Du lịch

Đến nay toàn ngành du lịch đã có hơn 30 khách sạn quốc doanh chuyển thành Công ty cổ phần, trong đó có 3 khách sạn thuộc các doanh nghiệp của Tổng cục Du lịch là Khách sạn Thái Bình Dương thuộc OSC – Việt Nam, Khách sạn Phương Đông – Công ty Du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng và Khách sạn Duyên Hải – Công ty Duy lịch Hải Phòng. Báo cáo của Ban đổi mới doanh nghiệp Tổng cục Du lịch tại Hội nghị sơ kết công tác cổ phần hóa trong ngành Du lịch do Tổng cục du lịch tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 27 đến ngày 28 tháng 4 năm 2000 cho biết: Ngành Du lịch Hà Nội là đơn vị đang dẫn đầu toàn ngành trong công tác cổ phẩn hóa. Ngành Du lịch Hà Nội đã chuyển 17 khách sạn thành Công ty cổ phần, trong đó có 7 khách sạn thuộc Sở Du lịch Hà Nội quản lý. Các địa phương khác như Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Tây, Vĩnh Phú, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Bình Thuận, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Đồng Nai… đã chuyển từ 1 đến 2 doanh nghiệp thành Công ty Cổ phần. Sau một thời gian cổ phần hóa, hầu hết các Công ty đều đạt hiệu quả cao hơn trước khi cổ phần về doanh nghiệp, nộp ngân sách, lợi nhuận, và thu hơn trước khi cổ phần về doanh số, nộp ngân sách, lợi nhuận và thu hơn trước khi cổ phần về doanh số, nộp ngân sách, lợi nhuận và thu nhập bình quân của người lao động. Các Công ty Cổ phần đã thực hiện trả cổ thức cho cổ đông với mức bình quân từ 0,8% đến 1% một tháng, ở Hà Nội cổ tức bình quân của các công ty Cổ phần từ 0,9% đến 1,5% tháng, Công ty Cổ phần Khách sạn Tây Nguyên – Đắc Lắc đạt cổ tức bình quân là 1,36% một tháng. Các Doanh nghiệp sau khi cổ phần hoa đã sắp xếp công việc hợp lý, không nhân viên nào bị sa thải, các Công ty Cổ phần còn tuyển thêm nhiều lao động trẻ đã được đào tạo. Tại các Công ty Cổ phần ý thức được trách nhiệm của người lao động được nâng cao rõ rệt, tình trạng thờ ơ với công việc, với tài sản chung không còn tồn tại. Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ rõ tiến độ trên đây là rất chậm, toàn ngành chỉ đạt 10% so với yêu cầu. Hầu hết các Công ty Cổ phần hóa đều có quy mô vừa và nhỏ, chỉ có khách sạn Sài Gòn, đơn vị đầu tiên Cổ phần hóa trong ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh trị giá là 18 tỷ đồng, Khách sạn Thủ đô – Hà Nội trị giá là 10 tỷ đồng, còn lại hầu hết các Khách sạn có giá trị từ 1 đến 5 tỷ đồng. Nhiều khách sạn sau khi cổ phần hóa còn giữ lại phần vốn của Nhà nước từ 10 đến 40%. Có Khách sạn giữ lại từ 50 đến 60% vốn của Nhà nước, do đó đã không huy động được vốn của toàn Xã hội để đầu tư, đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển Doanh nghiệp. Các đơn vị có Doanh nghiệp Cổ phần hóa, và các Doanh nghiệp đã Cổ phần hóa đã phát biểu nhiều ý kiến từ thực tế liên quan đến những vấn đề chung, liên quan tới những chính sách chung khi thực hiện Cổ phần hóa như quyền sử dụng đất, thuế thu nhập Doanh nghiệp vốn cho tái đầu tư và đào tạo lại, chế độ tiền lương, tổ chức chính trị và đoàn thể trong Công ty cổ phần, sự không đồng bộ giữa các ngành khi thực hiện chủ trương Cổ phần hóa. Ông Nguyễn Văn Huy, Phó Trưởng ban đổi mới quản lý Doanh nghiệp Trung ương đã ghi nhận những cố gắng của ngành Du lịch ngành đầu tiên tổ chức sơ kết công tác Cổ phần hóa ở quy mô toàn ngành. Ông cũng ghi nhận các ý kiến chung và những ý kiến mang tính đặc thù của ngành Du lịch trong quá trình cổ phần hóa để trình chính phủ. Tại hội nghị này, bà Võ Thị Thắng ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch đã chỉ rõ cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước nhằm thu hút vốn nhàn rỗi của toàn xã hội và nước ngoài để đầu tư, đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển Doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu Doanh nghiệp nhà nước. Vì thế cần tạo điều kiện cho người lao động trong Doanh nghiệp Cổ phần và người đã góp vốn được làm chủ thực sự, thay đổi phương thức quản lý, tạo động lực thúc đẩy Doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, nâng cao thu nhập cho người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước. Toàn ngành cần đẩy mạnh công tác này. Để đạt mục tiêu chuyển 20%, số Khách sạn quốc doanh hiện có thành Công ty Cổ phần trong những năm tới, cần đẩy mạnh công tác giáo dục, vận động, tổ chức trong toàn ngành Du lịch. Trước hết phải chuyển về nhân thức. Cổ phần hóa là tất yếu, tạo điều kiện để hiện đại hóa tạo thế liên kết vững chắc để có thể đứng vững, phát triển trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt để hội nhập khu vực và toàn cầu.
Hồng Trang -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(132)2000.

Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng làm việc với Tây Ninh, Bình Thuận, và Ninh Thuận

Từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 23 tháng 3 năm 2000, Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng cùng Trưởng đại diện Văn phòng Tổng cục Du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đi họp và làm việc với 3 tỉnh là Tây Ninh, Ninh Thuận, và Bình Thuận. Tại Tây Ninh, Tổng cục trưởng làm việc với đồng chí Bí thư tỉnh ủy và đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Các đồng chí lãnh đạo tỉnh cảm ơn sự quan tâm của Tổng cục Du lịch trong những năm vừa qua và đặc biệt là sự quan tâm của Tổng cục trưởng đã chỉ đạo sát sao cơ sở trong việc thực hiện Chương trình hành động quốc gia về Du lịch. Đồng chí Võ Thị Thắng đến làm việc trực tiếp với toàn ban lãnh đạo Sở Thương mại – Du lịch tỉnh và Công ty du lịch Tây Ninh là doanh nghiệp Nhà nước lớn nhất tỉnh, hoạt động đạt hiệu quả cao. Sau khi báo cáo tình hình chung, lãnh đạo Sở đã đề xuất một số kiến nghị với Tổng cục. Kiến nghị được nêu cụ thể là: Tổng cục Du lịch đề nghị với chính phủ cho phép mở tuyến du lịch xuyên Việt – Campuchia qua cửa khẩu quốc tế Mộc Bài. Nếu được sẽ thu hút nhiều khách quốc tế vào Việt Nam, không chỉ là người Campuchia mà còn có Thái Lan, châu u… Hiện tại, Tây Ninh mới chỉ được cấp giấy thông hành cho người dân Tây Ninh, sang Campuchia, nay đề nghị Chính phủ cho phép Tây Ninh được cấp giấy thông hành cho nhân dân các tỉnh khác được sang Campuchia. Hoặc đi theo hình thức cấp thị thực rời cho khách quốc tế đến Việt Nam muốn sang thăm Campuchia rồi lại trở lại Việt Nam. Đồng chí Võ Thị Thắng phát biểu tỏ ý rất mừng ngành du lịch của tỉnh hoạt động có hiệu quả lành mạnh, có hướng đi lên phát triển khá nhanh do sự năng động của địa phương. Sở và các doanh nghiệp sáng tạo, luôn có y thức xây dựng, tìm kiếm sản phẩm du lịch đặc thù để thu hút khách. Môi trường du lịch văn minh, lịch sử, an toàn nơi đây có thể là điển hình tiêu biểu cho các địa phương khác đến học tập. Tại Bình Thuận và Ninh Thuận các đồng chí Bí thư tỉnh ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, cùng lãnh đạo Sở Thương mại – Du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn 2 tỉnh đã báo cáo kết quả hoạt động thực trạng, tiềm năng du lịch và chương trình phát triển du lịch của tỉnh trong thời gian tới với Tổng cục trưởng và đoàn công tác.
Bình Thuận từ năm 1997 đến năm nay, hoạt động du lịch đã đi vào chiều sâu, khách quốc tế năm 1999 tăng 40% so với năm 1995. Riêng quý I năm 2000 tăng 10% so với quý I năm 1999 lượng khách quốc tế và nội địa tăng nhanh hơn quá nhiều so với dự báo. Doanh thu từ du lịch tăng 40% năm 1995 là 30,5 tỷ đồng, năm 1999 là 90 tỷ đồng, dự kiến năm 2000 là thu 120 tỷ đồng. Đầu tư cho phát triển du lịch vốn nước ngoài và trong nước 35 dự án với tổng số tiền 560 tỷ đồng để xây dựng các khu, điểm, làng du lịch, khách sạn và sân gôn. Với một tỉnh có nhiều tiềm năng du lịch như Bình Thuận được lãnh đạo tỉnh luôn tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, đầu tư cho du lịch là chủ yếu chắc chắn du lịch Bình Thuận sẽ có nhiều hứa hẹn trong tương lai. Sau khi nghe tình hình của tỉnh, Tổng cục trưởng đi thăm một số khu du lịch của 2 tỉnh khu du lịch Mũi Né, bãi biển Cà Ná, Làng dân tộc Chăm. Khu du lịch Ninh Chữ, Di tích lịch sử Tháp Chàm, làng nghề truyền thống dệt thổ cẩm, làng trồng nho… Tổng cục trưởng nhắc nhở các doanh nghiệp của tỉnh 2 cần quan tầm đến chất lượng phục vụ khách hơn nữa. Đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên đảm bảo chất lượng không nên chạy theo số lượng, môi trường du lịch phải giữ được sạch, an toàn…. Để thu hút khách quốc tế, khách nội địa đến lần 2, lần 3. Bình Thuận và Ninh Thuận đều đề nghị Tổng cục du lịch hỗ trợ cho tỉnh về in ấn phẩm quảng bá về tiềm năng du lịch tỉnh ra nước ngoài bằng kinh phí của Chương trình hành động quốc gia. Giúp tỉnh trong đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước về du lịch cán bộ quản lý các doanh nghiệp và công chức, nhân viên phục vụ trong các doanh nghiệp, khách sạn…
Hà Lan -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 22(126)2000.

Lễ hội mừng đảng – mừng xuân của Thủ đô Hà Nội

Kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 3 tháng 2 năm 1930 đến ngày 3 tháng 2 năm 2000 và phục vụ nhân dân Thủ đô vui Tết Canh Thìn, thành phố Hà Nội tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và vui chơi giải trí với quy mô của một lễ hội lớn: Biểu diễn nghệ thuật ngoài trời vào tất cả các tối từ ngày 2 tháng 2 đến ngày 7 tháng 2 năm 2000 tại 5 sân khấu lớn của thành phố: Sân khấu đền Bà Kiệu, Nhà Kèn vườn hoa I . Gandi, tượng đài Lê nin, công viên văn hóa Đống Đa, công viên Lê nin.
Lễ hội tuổi trẻ thủ đô báo công với Đảng với Bác Hồ kính yêu, kết hợp diễu hành của Tuổi trẻ toàn thành phố vào tối ngày 3 tháng 2 năm 2000 tại quảng trường Lăng Bác.
Chương trình Trống hội Thăng Long, Thả đèn trời và các tiết mục dân tộc đặc sắc trên sân khấu nổi hồ Thiền Quang vào tối giao thừa ngày 4 tháng 2 năm 2000.
Lễ hội Bắn pháo hoa vào thời khắc giao thừa tại hồ Hoàn Kiếm, hồ Tây và hồ Bảy Mẫu.
Đua Thuyền Rồng trên hồ Hoàn Kiếm vào chiều ngày 6 tháng 2 và sáng ngày 7 tháng 2 năm 2000 tức mùng 2 và mùng 3 tết canh Thìn.
Bên cạnh các hoạt động đặc sắc này tại Hồ Kiếm lần đầu tiên xuất hiện mô hình trang trí Rồng bay trên nền ánh sáng trắng quanh hồ tạo nên nét kỳ ảo, thơ mộng thiêng liêng trong thời khắc giao thừa. Sở Văn hóa – Thông tin phối hợp với Công ty Công viên cây xây triển khai thí điểm bán cành lộc xuân nhằm hạn chế thấp nhất tác hại của nạn hái lộc đầu năm mới Canh Thìn.
Ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam – Tổng kết cuộc vận động ủng hộ đồng báo miền Trung
Chiều ngày 24 tháng 1, Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam đã tổng kết cuộc vận động quyên góp ủng hộ giúp đỡ đồng bào miền Trung khắc phục những thiệt hại do lũ lụt gây ra cuối năm vừa qua. Ngay sau khi Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam phát động, với truyền thống đoàn kết, tinh thần tương thân tương ái lá lành đùm lá rách, đồng bào, chiến sĩ các nước, kiểu bào ta ở nước ngoài, các tổ chức quốc tế… đã nhiệt tình hưởng ứng cuộc vận động. Tính đến hết tháng 12 năm 1999, số tiền đã quyên góp được hơn 233,2 tỷ đồng tiền Việt Nam, hơn 57,5 nghìn đô la Mỹ, 38,6 nghìn Frăng Pháp, 440.548 Yên Nhật, 3100 Mác Đức, 100 Bạt, 4.970 đô la Úc và 17 chỉ vàng cùng gần 4 nghìn tấn hàng hóa các loại. Số tiền và hàng hóa trên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã kịp thời chuyển tới các vùng bị thiệt hại ở Miềm Trung, giúp đồng bào sớm ổn định cuộc sống, khôi phục sản xuất.
Phạm Thúy -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 8(112)2000.

Y miếu – Võ miếu ở đâu?

Chúng ta ai cũng rất quen với Văn Miếu. Thế nhưng cho đến nay, nhiều người, kể cả những người đang hoạt động trong ngành võ thuật còn chưa biết rằng tại Thăng Long thời xưa ngoài Văn Miếu còn có Võ Miếu và Y Miếu. Y Miếu thời xưa được xây dựng về phía đông Văn Miếu, là nơi thờ các vị danh y có công lớn nền y học phương đông. Y Miếu được khởi công xây dựng từ thời vua Lê Hiển Tông, hoàn thành vào năm Canh Ngọ năm 1760, đến năm 1774 giáp Thân thì được tu bổ và mở rộng thêm. Năm 1834, Y Miues lại được trùng tu một lần nữa. Từ năm 1930 đến năm 1954, Y Miếu được sửa chữa lại ba lần. Lần thứ nhất là vào năm 1930 do Hội Chấn hưng Thượng Hà Đông thực hiện. Trước đó tại Y Miếu chỉ thờ ba vị thành nghề thuốc là Phục Hy, Thần Nông, và Hoàng đế. Trong lần trung tu này, hai danh y của Việt Nam là Tuệ Tĩnh và Lãn Ông đã được đưa vào Y Miếu để nhân dân thờ cúng. Lần thứ hai là năm 1934, Bắc Kỳ Y học Hội lại sửa lại mái hiên, làm sân, xây lối đi từ cổng vào sân, vào hiên, vào miếu. Lần thứ ba là vào năm 1952, Tổng chi Bắc Việt của Hội Y Dược học Việt Nam đứng ra sửa chữa và mở rộng. Hàng năm vào ngày 15 tháng giêng âm lịch, những người làm nghề đông y dược tụ họp, làm lễ kỷ niệm và tưởng thớ đến công lao của các vị tiền bối đã có công sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam. Ngày nay Y Miếu đã là di tích được Nhà nước xếp hạng. Nếu bạn một lần ghé qua phía đông của chợ Ngô Sĩ Liên – Hà Nội, bạn sẽ có dịp tiềm hiểu Y Miếu xưa. Còn Võ Miếu vào thời xưa nằm ở vị trí giữa ngã tư phố Hoàng Diệu và Điện Biên Phủ ngày nay gần bảo tàng Quân Đội. Năm 1740 nhà Lê quy định cách thờ ở Võ Miếu với ngôi vị cụ thể ở chính giữa thờ Võ Thành Vương, Thái Công Vọng, còn hai bên Đông Vũ và Tây Vũ thờ từ Tôn Vũ Tử, Quản Tử trở xuống tất cả là 18 người, Trần Hưng Đạo, Đại Vương Quốc Tuấn cũng thờ theo vào Võ Miếu dựng miếu riêng Quan công nhà Hán. Hàng năm Võ Miếu tổ chức hai kỳ lễ tế vào mùa xuân và mùa thu, đều vào ngày mậu thượng tuần. Ở triều đại nhà Tây Sơn chưa kịp mở trường võ học và Võ Miếu. Sang thời Nguyễn, tại Huế có lập Võ Miếu gần Văn Miếu năm 1835, nằm ở phía bên phải Tả văn và hữu võ. Võ Miếu thuộc ấp Nội Sùng, huyện Hương Trà – Huế gồm có 2 nhà chính đường 3 gian 2 chái và tiền tế 5 gian, rồi thêm 2 tòa thờ phụ ở 2 bên tả hữu đều 5 gian, xung quanh xây tường gạch, mặt trước xây một nghi môn, hai bên tả hữu đều có cửa tò vò, bộ lễ cân nhắc các đơn vị được thờ: Thái công tức Chu Thượng Phụ Khương thái công giống Trung Quốc và thời Lê ở ta, Tôn võ tử, Điền nhượng Thư, Quản Trọng, Lý Tĩnh, Trương lương, Hàn Tín, Gia Cát Lượng, quách Tử Nghi và Lý Thanh. Các tướng Việt Nam: Trần Quốc Tuấn, Lê Khôi, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến, Tôn Thất Hội và Nguyễn Văn Trượng tất cả 6 người được thờ phụng ở nhà giải Vũ Tả Hữu. Hàng năm vào Xuân Thu nhị kỳ, lễ tế được tổ chức gồm một con trâu, một con dê, hai con lợn, năm mâm xôi. Thường ngày, Võ Miếu được chăm sóc bởi 20 người dân gần làm thủ hộ. Năm 1861 vua Tự Đức chuẩn định thi hội võ 3 năm một lần, tổ chức vào tháng 5, làm lễ điện ở Võ Miếu, ai đỗ được khắc tên ở bia đá để hai bên sân trước Võ Miếu. Như vậy lập ra Võ Miếu đã giáo dục và khích lệ tinh thần thượng võ, định hướng cái đạo trong võ cái nghĩa luôn được coi trọng. Lược qua lát cắt, ta thấy ngoài Võ Miếu Hà Nội, Văn Miếu – Bắc Ninh, Văn Miếu – Huế ta còn có Y Miếu – Hà Nội, Võ Miếu – Hà Nội, Võ Miếu – Huế. Cả thảy có 2 Võ Miếu. Qua đó ta thấy được phần nào việc coi trọng đề cao võ thuật thời xưa. Võ Miếu – Thăng Long xưa tuy không còn nhưng vị trí lịch sử của nó mãi mãi tồn tại cùng thời gian, nhất là giới yêu chuộng võ thuật.
Nguyễn Văn Long -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 7(111)2000

Du lịch năm 2000 với công nhân – nông dân bộ đội trí thức tiểu thương

Năm 1999 đã nhường chỗ cho năm 2000. Bắt đầu một năm mới người ta thường có những ước mơ, hy vọng có được và làm được nhiều điều. Vậy trong năm 2000 này người Việt Nam có quan tâm đến du lịch không? Họ có những suy nghĩ những góp ý gì về du lịch? Chúng ta hãy lắng nghe họ nói:
Anh Trần Duy – Thượng uy, sĩ quan thông tin Quân đội nhân dân Việt Nam.
Theo tôi được biết thì mục tiêu của Nhà nước và nhân dân ta là phấn đấu năm 2020 đưa đất nước thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong dịch vụ phải đứng hàng đầu và du lịch có vai trò lớn trong sự thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vì thế tôi tin là Nhà nước sẽ có những chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch hiện nay đang gặp khó khăn. Nói cách khác, du lịch là một ngành kinh tế có nhiều triển vọng trong tương lai. Là một người lính tôi đã từng đi khắp đó đây, song rất ít có điều kiện để có những chuyến đi du lịch theo đúng nghĩa của nó. Một ngày nghỉ cuối tuần thoải mái bên vợ con ở một khu du lịch nào đó luôn là mơ ước của tôi. Mong rằng sắp tới ngành du lịch sẽ có nhiều chính sách mới cải cách gia cả có nhiều chính sách mới cải cách giá cả cho phù hợp với từng đối tượng khách du lịch với khả năng của mình.
Bà Đỗ Thị Nhẽ công nhân thủy sản ở Nam Định: Tôi là công nhân cho nên công việc có tính chất thường xuyên nên khó có điều kiện đi du lịch. Tuy hàng năm cơ quan vẫn tổ chức đi tham quan, nghỉ mát cho công dân, nhưng những chuyến đi như vậy chỉ một hai ngày và những địa điểm gần hoặc quá quen thuộc. Tôi mong muốn sẽ được đi lâu hơn và xa hơn để tìm hiểu những điều chưa biết. Tôi cũng muốn những công ty du lịch sẽ có giá ưu đã đối với những người công dân như tôi, để khi được nghỉ phép hay ngày lễ, tết tôi có cơ hội được đến những nơi mà thời gian qua tôi chưa có điều kiện đến.
Ông Nguyễn Đức Dũng giảng viên Khoa Báo Chí – Phân viên Báo chí và tuyên truyền Hà Nội
Đương nhiên là tôi quan tâm đến du lịch, không chỉ vì du lịch là một ngành kinh tế quan trọng đối với đất nước ta mà tôi quan tâm đến du lịch trước hết là do du lịch đem đến sự thoải mái và bổ ích. Du lịch giúp tôi được thư giãn tinh thần cho tôi khám phá những điều mới mẻ, thú vị về phong cảnh, con người, phong tục tập quán của một vùng đất nào đó. Nghê nghiệp của tôi đòi hỏi tôi phải thường xuyên đi công tác xa. Chính những chuyến đi ấy là những chuyến du lịch của tôi. Đã đi nhiều nơi, nhiều khu du lịch, tôi thấy rằng nếu đi du lịch gắn với bản sắc văn hóa của từng vùng đất thì sẽ luôn hấp dẫn. Bởi như thế không những người nước ngoài được làm quen mà cả người Việt Nam cũng hiểu thêm về văn hóa Việt Nam. Tôi nghĩ năm 2000 du lịch Việt Nam sẽ phát triển hơn những năm qua bởi kinh tế đất nước đang khá lên, quan hệ quốc tế ngày càng tốt và ngành du lịch đang hoàn thiện mình. Tuy nhiên tôi cũng thấy những mặt trái của du lịch vẫn còn tồn tại và cần khắc phục như bói toán, mê tín dị đoan, ăn xin, chèo kéo du khách mua hàng, cờ bạc, mại dâm… Hy vọng những tệ nạn như thế này sẽ giảm trong năm 2000 và những năm sau. Hy vọng những vùng đất chưa được khai thác hoặc khai thác rất ít sẽ được chú ý đến nhiều hơn.
Kim Ngân -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 5 (109)2000.