Du lịch tàu biển lên ngôi

Một loạt các hãng du lịch tàu biển trên thế giới vừa cho ra đời các con tàu sang trọng nhằm phục vụ đối tượng khách du lịch thanh niên và những người ưa hoạt động trong quá trình đi du lịch. Các dịch vụ trên boong tàu dường như không thiếu thứ gì. Các thiết kế mới nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nhiều nhà hàng, phòng tắm hơi và lan can của du khách ngày nay. Sau đây là một vài ví dụ điển hình.
Con tàu Grand Princes của hang P&O trọng tải 109.000 tấn, hiện nay là con tàu du lịch lớn nhất thế giới. Grand Princes mở ra một khái niệm mới về dịch vụ trên tàu biển chẳng kém gì dịch vụ một khu du lịch hạng sang trên mặt đất.
Tuy nhiên, con tàu Voyager of the seas của hãng Royal Caribbean International, đang được đóng tại Phần Lan sẽ vượt xa Grand Princes. Trọng tải tàu: 142.000 tấn, phục vụ được 3.000 khách/chuyến. Các quan chức của hãng này cho biết: “Chúng tôi muốn gây ấn tượng đối với hành khách bằng thiết kế đặc biệt của con tàu”. Trên tàu sẽ có một dãy cửa hàng đặc biệt, một quầy bar chuyên uống Champaign, sân thể thao với các môn golf, leo núi, bóng rổ…, quầy rượu và thuốc lá. Điều đặc biệt nhất là một rạp hát sẽ được thiết kế để biểu diễn hòa nhạc trên tàu. Một chiếc cầu cũng sẽ được thiết kế để du khách có thể quan sát được trung tâm điều khiển và lái tàu.
Con tàu Carnival Triumph, 102.000 tấn, có thể chở 2.758 du khách đã bắt đầu hoạt động từ tháng 7 năm nay. Hãng Carnival’s fantasy-class ships lâu nay đã có tiếng là phục vụ tốt và hoạt động khá hiệu quả. Trên tàu có bể bơi ngoài trời rộng rãi, quẩy bar thể thao, quán rượu, café. Đặc biệt các nhà hàng trên tàu còn phục vụ nhiều món ăn Trung Quốc và Italia. Lan can tàu chiếm 62% diện tích boong, điều này đã đánh trúng vào thị hiếu và sở thích của những người sành điệu du lịch tàu biển. Tàu carnival triumph hiện nay chỉ phục vụ trong địa phận Canada, nhưng sắp tới carnival triumph sẽ du hành đến Miami và Caribbean.
Tàu Norwegian Sky trọng tải 80.000 tấn, có thể chở 2.002 hành khách. Ngoài những dịch vụ thông thường, tàu còn có quán café Internet phục vụ cả khách thương nhân. Sắp tới tàu sẽ đi vòng quanh Châu u, sau đó đến Boston, Canada và Anh quốc.
Lê Công Viên – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Các loại khách sạn ở Nhật

Ngành khách sạn Nhật thực sự làm ăn phát triển từ sau chiến tranh thế giới thứ hai khi nền kinh tế phát triển mạnh và cực nhanh. Khách sạn Nhật có thể chia ra hai loại lớn là quán trọ và khách sạn.
Từ kiến trúc bề ngoài hoặc tên gọi rất khó phân biệt được hai loại này. Tuy nhiên nói chung quán trọ thường có xu thế xây theo kiểu Nhật, còn khách sạn xây theo kiểu Tây (Châu u).
Quán trọ đa số làm bằng gỗ, trong nhà không có giường nằm mà ngủ ngay trên sàn. Bàn ghế ở đây làm thấp, giường có thể là một tấm đệm hoặc giải chiếu. Còn khách sạn đa số thường xây bằng gạch ngói, bê tông, bên trong bố trí theo kiểu Tây. Tuy nhiên các bạn Nhật cho hay phân chia khách sạn như vậy có phần hơi máy móc. Thực ra sự khác nhau lớn nhất, giữa hai loại không phải về hình thức mà là nội dung bên trong: Khách sạn Tây nhấn mạnh việc tự phục vụ, còn nhà Nhật lại nhấn mạnh việc chủ động phục vụ, cố gắng tạo cho khách cảm giác như ở nhà.
So với khách sạn Tây, nhiều người thích nhà nghỉ kiểu Nhật, mặc dù không có cái hào hoa sang trọng nhưng lại có không khí gia đình ấm cúng. Khách vào nhà trọ lập tức được đưa vào buồng ở ngay. Lúc này rất nhanh, một số phục vụ viên mặc kimônô sẽ tới mời trà và dọn ra một bữa ăn điểm tâm nhỏ đặc sản địa phương hoặc do chủ nhà tự làm. Phục vụ viên có lúc còn được gọi là “nữ tướng”. Khi ra mắt, “nữ tướng” hỏi khách vài câu rồi ngồi xuống giới thiệu các trang bị của nhà trọ cùng các danh lam thắng cảnh xung quanh. Sau đó họ sẽ chủ động sắp xếp cho khách đi tắm hoặc tới chỗ tắm nước khoáng. Đợi khách trở về, chủ nhân đã đợi sẵn trong phòng để “mát sa” cho khách – một cách phục vụ nhiệt tình theo đúng nghĩa “cơm đến tận miệng”.
Sau khi ăn cơm, chủ nhân dọn dẹp mâm bát rất nhanh và sạch đồng thời chuẩn bị giường chiếu cho khách đi nghỉ. Điều đặc biệt, nhà trọ kiểu Nhật không những rẻ hơn khách sạn Tây mà nhiều khi còn được phục vụ miễn phí hai bữa ăn sáng và tối. Đây là điểm hấp dẫn nhất đới với khách du lịch.
Ngoài khách sạn kiểu Tây và nhà trọ kiểu Nhật, tại Nhật còn có nhiều loại khách sạn khác có công dụng, hình thức và giá cả khác nhau trên cơ sở tập quán, lịch sử và văn hóa Nhật.
Nhà trọ kiểu toa xe
Loại khách sạn này thường nằm gần các ga lớn trong thành phố, rẻ tiền và thường có hai tầng sắp xếp cạnh nhau với hình thức như một toa tàu hỏa. Điều khác là chỗ nằm có hình toa xe nhưng chỉ dài 2m, rộng và cao chỉ 1m. Tuy diện tích chật hẹp nhưng các thiết bị như tivi, hệ thống chiếu sáng đều có đầy đủ. Mặc dù bên trong không đứng được nhưng có thể ngồi xem báo, nằm xem tivi. Sau khi làm xong các thủ tục, khách sẽ nhận chìa khóa hòm đồ có cùng số hiệu với số phòng rồi cất hành lý vào đó. Sau khi thay bộ đồ ngủ rồi vào buồng tắm nước nóng lau rửa, khách có thể vào “toa xe” của mình kéo rèm và ngủ.
Khách sạn ngắm cảnh suối khoáng nóng
Nơi có nhiều núi lửa ở Nhật thường là nơi có nhiều suối nước nóng. Người Nhật do thích sạch sẽ nên coi việc tắm nước khoáng là sự hưởng thụ không thể thiếu được. Vì vậy, phàm nơi nào có nguồn nước khoáng, nơi đó có khách sạn và cửa hàng ăn. Một số khách sạn xây lên cốt để phục vụ cho suối nước khoáng, khách tới đó chủ yếu để tắm mà không phải để ngắm phong cảnh và mua hàng. Suối nước khoáng trong khách sạn này có thể to hoặc nhỏ. Loại to có thể phục vụ cả trăm người cùng tắm 1 lúc, loại nhỏ chỉ phục vụ cho 1 người. Ngoài bể tắm phổ thông còn có các loại nhà tắm nổi tiếng; tắm dỡn song, tắm hoa và tắm thuốc. Tuy nhiên loại tắm hỗn hợp được nhiều khách nước ngoài ưa chuộng nay còn rất ít.
Nhà trọ ái tình
Còn có tên gọi “nhà trọ tình nhân”, thường đặt tại gần các ga lớn trong thành phố hoặc gần đường cao tốc, nơi người qua lại đông đúc. Nhà trọ không những có hình thức bên ngoài đầy lãng mạn mà ban đêm đèn huỳnh quang sáng rực. Khi vào cửa khách có thể được xem các bức ảnh giới thiệu buồng ở. Sau khi chọn buồng xong, khách có thể tới bàn phục vụ nhận chìa khóa, và chỉ cần trả tiền theo giá biểu là có thể đi. Chủ nhà và phục vụ viên không trực tiếp gặp khách. Do nhà trọ trả tiền theo giờ nên được chia theo 2 tiêu chuẩn sau: ở và nghỉ tạm.
ND- Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Hội nghị tổng biên tập báo các Đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Trong hai ngày 8 và 9-9-1999 tại Hà Nội, Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương đã tổ chức hội nghị Tổng biên tập báo cáo đảng bộ trực thuộc Trung ương để kiểm điểm đánh giá hoạt động của các báo Đảng sau 2 năm thực hiện chỉ thị 22 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới và tăng cường lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản” và nghiên cứu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí.
Tới dự có các đồng chí Nguyễn Phú Trọng Ủy viên ban chấp hành phụ trách công tác tư tưởng – văn hóa và khoa giáo của Đảng, tham gia thường trực Bộ Chính trị; Phạm Gia Khiêm Ủy viên trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ; Hữu Thọ, Ủy viên trung ương Đảng, Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương; Nguyễn Khoa Điềm, Ủy viên trung ương Đảng, Bộ trưởng Văn hóa – Thông tin; Hồng Vinh, Ủy viên trung ương Đảng, Tổng biên tập báo Nhân Dân; Phan Quang, Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam và các đồng chí lãnh đạo các bộ, ban, ngành có liên quan.
Đồng chí Đào Duy Quát, Phó trưởng ban thường trực Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương đã trình bày báo cáo sơ kết 2 năm thực hiện chỉ thị 22 của Bộ Chính trị, nêu bật vị trí, vai trò của báo Đảng địa phương trong hệ thống báo chí của nước ta. Hiện nay cả nước đã có 61 tờ báo Đảng ở 61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với số lượng phát hành gần 144 triệu bản một năm, chiếm 25% tổng số bản báo chí phát hành của cả nước, đóng góp một phần đáng kể về mặt số lượng báo Đảng, mở rộng hơn việc phổ biến, tuyên truyền thông tin của Đảng tới từng thôn xóm, làng bản, vùng xa, vùng sâu.
Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định vị trí vai trò quan trọng của báo Đảng địa phương trong hệ thống báo chí của xã hội, hoan nghênh báo Đảng địa phương đã vượt qua khó khăn, có nhiều tiến bộ, đổi mới về nội dung, hình thức, có bước phát triển mới về chất lượng thông tin, số lượng phát hành; trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, phóng viên, biên tập viên được nâng cao. Đồng chí cũng nêu rõ những định hướng lón và những nhiệm vụ chủ yếu của báo Đảng địa phương trong thời gian tới.
Hội nghị đã nghe Tổng biên tập một số báo Đảng các tỉnh, thành phố tham luận về thực trạng và vị trí, vài trò của báo chí trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị cũng như thực hiện Nghị quyết Trung ương V, Nghị quyết Trung ương VI (lần 2) và Nghị quyết Trung ương VII.
T.H – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Tiềm năng du lịch rất lớn nhưng thiếu vốn thiếu người để phát triển

Có thể nói An Giang là một vựa lúa lớn nhất của vùng Tứ Giác Long Xuyên, là một tỉnh đứng đầu về sản xuất lương thực của cả nước. Tiềm năng du lịch ở đây cũng rất phong phú có nhiều khu du lịch và các lễ hội: Vía Bà Núi Sam, đua bò… Hàng năm thu hút trên 2 triệu lượt du khách. Phóng viên báo Tuần Du Lịch đã phỏng vấn ông Lê Minh Hưng Phó Giám đốc Sở Thương mại – Du lịch An Giang.
PV: Thưa ông, ông có thể cho biết đôi nét về tình hình hoạt động du lịch trong 6 tháng vừa qua?
Ông: Lê Minh Hưng: 6 tháng qua tổng lượt khách đến các khu, điểm du lịch, ước khoảng 2.076.500 lượt đạt 85,19% kế hoạch, tăng 13,56% so với năm 1998. Trong đó: Doanh thu các Doanh nghiệp Du Lịch: ước đạt 11 tỷ 765 triệu đồng, đạt 47,82% kế hoạch tăng 9,2% so với năm ngoái. Nhìn chung lượng khách đến các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh và khách do các doanh nghiệp lịch phục vụ trong 6 tháng đầu năm 1999 có tăng hơn cùng kỳ năm 1999. Nhưng năm nay có đặc điểm là lượng khách hành hương không đi tập trung lúc cao điểm lễ hội Vía Bà (từ 15 đến 25/4 âm lịch). Trong các ngày cao điểm năm nay lượng khách ít hơn các năm trước và chỉ tập trung trong 6 tháng đầu năm, chiếm khoảng 75% cả năm. Do đó nếu 6 tháng đầu năm không đạt được mức 75% trở lên thì kế hoạch cả năm khó đạt.
PV: Như vậy khách hành hương chủ yếu đến với Lễ hội Vía Bà Núi Sam (Châu Đốc) là chính, còn du khách thực sự đi du lịch còn ít vì sao?
Ông Lê Minh Hưng: Đúng là khách hành hương tập trung về Lễ hội Vía Bà Núi Sam là chủ yếu còn du khách đi du lịch chưa được bao nhiêu. Do những năm trước đây tỉnh táo tập trung đẩy mạnh sản xuất lương thực, khi sản xuất lương thực, khi sản xuất lương thực đạt được các chỉ tiêu, thì du lịch được quan tâm nhiều hơn. Vì vậy các khu du lịch đến nay đang tiến hành đầu tư xây dựng như: Khu lưu niệm Bác Tôn, công viên Mỹ Thới, khu du lịch Núi Sam, khu du lịch núi Cấm, Khu văn hóa lịch sử truyền thống Núi Két, khu du lịch Núi Cô Tô v.v… Một số khách sạn xây dựng lâu năm đã xuống cấp cũng được xây lại.
PV: Vào các thời gian cao điểm của các Lễ hội, những đối tượng tệ nạn xã hội thường gây phiền hà cho du khách. Vậy Sở Thương mại – Du lịch đã phối hợp với các cơ quan chức năng có biện pháp như thế nào để hạn chế các vụ việc xảy ra?
Ông Lê Minh Hưng: Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã chỉ đạo giao cho Sở Thương Mại – Du lịch phối hợp với các Ban Ngành thực hiện. UBND Thị xã Châu Đốc đã thành lập Ban Chỉ đạo tổ chức Lễ hội Chùa Bà Núi Sam 99, Ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch và thành lập đoàn liên ngành để kiểm tra kinh doanh, dịch vụ, vệ sinh, trật tự, giao thông v.v…
Ban chỉ đạo Lễ hội có các điểm chốt để giải quyết mọi thắc mắc cho du khách, nhằm để không làm phiền nhiễu cho du khách.
Mùa Lễ Hội đầu năm 1999 Sở Thương Mại – Du lịch kết hợp với Sở Tài chính ban hành hướng dẫn niêm yết giá, quy định an toàn vệ sinh thực phẩm. Mặt khác, trong mùa Lễ Hội Chùa Bà Núi Sam, Ban quản tự Miếu Bà cũng thu được khoản tiền công đức gần 6 tỷ đồng có sự giám sát của UBND Thị xã Châu Đốc để chỉ một phần cho chi phí Lễ Hội, lương cho Ban quản tự, đội bảo vệ, chi sửa chữa nhỏ và chị hỗ trợ để thu gom các đối tượng xã hội. Vì vậy, theo đánh giá tổng kết mùa Lễ Hội năm 1999 đã làm tốt hơn năm 1988.
PV: Xin cảm ơn ông !
Ngô Mạnh Hùng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1999

Mưa lũ gây thiệt hại cho nhiều tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên

Trên 22.000 người cần được trợ cứu đói khẩn cấp
Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành khẩn trương giúp các địa phương khắc phục hiệu quả.
Đến chiều 2-8-1999 đã thông xe trên tất cả tuyến đường
Trong những ngày cuối tháng 7, đầu tháng 8 vừa qua, do mưa lớn kéo dài và lũ ở thượng nguồn đổ về dữ dội đã gây thiệt hại lớn về người và của đối với nhiều tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
Tại Đồng Nai, một số vùng đã bị ngập lụt nặng, trong đó có 3.931 căn nhà bị ngập, 55 nhà bị sập, 3.209 ha lúa bị ngập sâu, hơn 1.000 ha cây ăn trái và cây lâu năm bị ảnh hưởng cho lũ quét. Mưa lũ đã làm chết, mất tích 7 người, cuốn trôi 14 cây cầu và gần 20 km đường giao thông bị ngập.
Đặc biệt, tại Bình Thuận, tính đến 3-8-1999 có 30 người bị chết, 5 người bị mất tích, 11.191 căn nhà bị lũ tàn phá, trong đó 1.128 căn bị cuốn phăng không còn dấu vết, thiệt hại toàn tỉnh khoảng 165 tỷ đồng.
Theo thống kê sơ bộ, mưa lũ cũng đã gây thiệt hại lớn cho hệ thống giao thông ở các tỉnh Đồng Nai, Bình Thuận, Lâm Đồng, Đắk Lắk. Trên quốc lộ 1A có 3 cầu bị cuốn trôi (cầu sông Cát, sông Phan và sông La), trên quốc lộ 14 có 1 cống bị cuốn trôi. Lũ cũng làm nhiều đoạn đường thuộc quốc lộ 1, 14 và 55 bị sạt lở nền móng, mặt đường và bờ ta-luy.
Hiện tại các địa phương bị lũ lụt có trên 22.000 người đang ở trong cảnh “màn trời chiếu đất” cần được cứu đói khẩn cấp.
Ngay sau khi biết tin có mưa lũ gây thiệt hại nặng về người và tài sản tại các tỉnh, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ đã có điện yêu cầu các Bộ, ngành phối hợp với các địa phương khẩn trương khắc phục hậu quả, nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống nhân dân. Sáng 2-8-1999 đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Phó thủ tướng thường trực Chính Phủ dẫn đầu đoàn công tác của Chính phủ (gồm đại diện các Bộ, ngành liên quan) đến thăm và chỉ đạo khắc phục hậu quả những vùng bị lũ lụt của tỉnh Bình Thuận – nơi bị ảnh hưởng nặng nhất.
Nhờ các biện pháp khắc phục kịp thời về giao thông, đến chiều 2-8-1999 đã thông xe trên tất cả tuyến đường bị mưa lũ. Nhiều địa phương, đơn vị và cá nhân trong cả nước đã phát động phong trào ủng hộ giúp đỡ nhân dân vùng bị thiên tai.
T.H – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000

Trung tâm nghiên cứu lâm sinh Lâm Đồng

Cuộc tranh cãi chỉ tạm lắng xuống khi hai nhà khoa học người Mỹ là Litenle và Krisphind đưa ra luận điểm: Đây là giống Ducanpopinus hóa thạch sống là một hóa thạch sống của một loài thực vật cổ sinh rất có rất có thể sinh cùng thời với khủng long. Có nghĩa là từ hàng triệu năm trước, tất cả đã biến mất sau những cơn thiên địa đổi dời, nhưng vẫn còn một kẻ “hóa thạch sống” để sống sót đến ngày nay là thông hai lá dẹt. Chính nhờ vậy mà các nhà khoa học ngày nay mới có thể tìm ra mối quan hệ giữa thực vật cổ và thực vật hiện đại. Một viện sĩ hàn Lâm Liên Xô cũ – ông A. Tastagsceh từng ao ước: “Tôi chỉ muốn sang ngay Việt Nam và sờ tay lên cây Pinus Krempfii rồi chết cũng mãn nguyện!”. Xem ra chuyến đi giả làm du khách của tôi không phải là vô ích. Và chắc chắn nhiều du khách thực sự cũng muốn biết nếu tuyến du lịch lên Cổng Trời được mở ra.
Du lịch cổng trời, tại sao không?
Đứng trên Cổng Trời, bên cây thông hai lá dẹt đầy bí ẩn, hết nhìn xuống hồ suối Vàng – Dankia mơ màng trong làn sương trắng bạc, tôi lại nhìn về phía xa, nơi có dòng sông Krôngnô ắp đầy huyền thoại. Sông Krôngnô là ranh giới tự nhiên của hai tỉnh Lâm Đồng và Đắc Lắc. Nó như con rắn khổng lồ uốn mình qua những quả núi cao ngất, như dải lụa trắng muốt của tiên nữ đánh rơi dưới trần đang phất phơ trong gió. Hai bên bờ là những mái nhà sàn của các tộc người Mnông, Êđê, Chill, Lạch… Đó là những tộc người rất giàu sức tưởng tượng. Và đời sống văn hóa của họ vì thế cũng rất phong phú, bí ẩn tựa như những bí ẩn của các loài động, thực vật nơi đây. Buổi trưa, trong bữa… cơm chỉ có bánh mì và nước suối ở giữa rừng, tôi đem câu chuyện về nàng Y Sao và trăn thần (trích từ kho truyền thuyết ở quần sơn này) ra kể để mọi người cùng nghe. Một anh bạn trẻ trong đoàn là cán bộ của Trung tâm nghiên cứu lâm sinh Lâm Đồng tròn mắt: “Giá như lúc này đây, bạn là một du khách thực sự và tôi là một hướng dẫn viên du lịch đích thực thì chắc chắn rằng sẽ có nhiều câu chuyện thú vị hơn vậy!”. Ấy là tôi nói thế, là viễn cảnh mà tôi tự vẽ ra mà thôi. Còn trong thực tế cho đến lúc này, tuyến du lịch trên có lẽ vẫn chưa nằm trong ý đồ của các nhà quản lý lẫn các nhà kinh doanh du lịch. Tuy nhiên, với riêng tôi, qua chuyến đi này vẫn hy vọng rằng trong tương lai Cổng Trời sẽ là một điểm du lịch. Du lịch lên Công Trời, tại sao không? Điều đó có chủ quan? Nhưng tôi biết chắc chắn rằng du lịch Đà Lạt nói riêng và Lâm Đồng nói chung đang thừa mức nhà nghỉ, khách sạn trong khi các loại hình du lịch sinh thái – văn hóa – thể thao đang rất thiếu. Chiều tối về lại Đà Lạt, nhìn những khách sạn, nhà nghỉ chen nhau mọc lên với các kiểu đèn màu nhấp nháy, trong tôi có cảm giác gai gai thế nào ấy! Và một lần nữa mùa xuân chạm cửa trong tôi lại bật ra câu hỏi. Du lịch lên Cổng Trời, tại sao không? Đà Lạt, xuân 1999.
Khắc Dũng-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Cảnh quan du lịch chưa được quy hoạch đầu tư khai thác đúng mức

Để khắc phục những thủ tục còn gây phiền hà cho doanh nghiệp và du khách.
Sau gần một năm đi vào cuộc sống, Pháp lệnh du lịch đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Bên cạnh đó vẫn còn một số khó khăn vướng mắc. Phóng viên báo Du lịch đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Quang Duy giám đốc Công ty du lịch dịch vụ Dầu khí Việt Nam xung quanh những vấn đề nêu trên.
Phóng viên: Thưa ông, những vướng mắc về cơ chế, chính sách hiện nay là gì?
Ông Phạm Quang Duy: Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam, những năm gần đây mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, cơ chế mới phù hợp hơn, nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp, nhưng để có được môi trường kinh doanh lành mạnh thuận lợi cho các doanh nghiệp thi đua phát triển thì vẫn còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục điều chỉnh. Cụ thể là chúng ta còn chưa cụ thể hóa kịp thời quan điểm, đường lối chính sách đổi mới của Đảng vào việc quản lý kinh tế và xã hội, quản lý doanh nghiệp. Nhiều khi luật, nghị quyết đã có những việc hướng dẫn thi hành cũng chưa kịp thời, thí dụ pháp lệnh du lịch đã có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5 năm 1999, nhưng đến nay vẫn còn đang dự thảo văn bản hướng dẫn và chưa biết đến khi nào sẽ xong. Trong khi đó văn bản cũ thì đã hết hiệu lực.
Phóng viên: Ông có thể cho biết rõ hơn về những khó khăn trong lĩnh vực kinh doanh du lịch?
Ông Phạm Quang Duy: Khó khăn của doanh nghiệp kinh doanh du lịch có rất nhiều vì hoạt động du lịch liên quan trực tiếp đến nhiều ngành, nhiều địa phương … Nếu chỉ có ngành du lịch cố gắng thì chưa đủ để có sản phẩm du lịch hấp dẫn, chưa đủ để giải quyết những khó khăn như: môi trường du lịch còn lộn xộn, cạnh tranh phức tạp giữa các doanh nghiệp và các cá nhân hoạt động “chui”, cảnh quan du lịch chưa được quy hoạch đầu tư khai thác đúng mức, vệ sinh chưa tốt… Và điều ai cũng thấy nhức nhối là tệ nạn đeo bám, bán hàng, ăn xin, trộm cắp, gây phiền hà cho khách du lịch hiện nay. Những vấn đề đang quan tâm lâu dài là cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp để khắc phục những thủ tục do chính chúng ta đặt ra hiện nay, mà từ những thủ tục đó dễ bị lợi dụng để gây phiền hà cho doanh nghiệp và du khách. Ví dụ: Doanh nghiệp đã và đang hoạt động nhưng hàng năm vẫn còn phải xin cấp nhiều loại giấy tờ như: “giấy chứng nhận đủ điều kiện an ninh trật tự để làm nghề kinh doanh đặc biệt”. Muốn có giấy chứng nhận trên thì phải xin “giấy chứng nhận đủ điều kiện về phòng cháy chữa cháy”. Trong khi cả hai loại giấy này đều do một cơ quan chức năng cấp. Công tác thanh tra kiểm tra còn do nhiều cơ quan cùng có quyền thực hiện nhưng mới chú trọng xử phạt mà thiếu biện pháp hỗ trợ giúp doanh nghiệp khắc phục khó khăn. Về những lĩnh vực khác, chúng tôi thấy cũng cần phải sớm có điều chỉnh. Hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp nhà nước đang ở tình trạng dôi dư lao động nhưng lại rất thiếu lực lượng, lao động trẻ, năng động có chuyên môn, ngoại ngữ giỏi. Việc giải quyết lao động dôi dư và bổ sung lao động giỏi gặp nhiều khó khăn do bị cơ chế trói buộc, gây ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chế độ tiền lương theo nghị định 26/CP cũng chưa hợp lý: Muốn có đơn giá tiền lương, doanh nghiệp phải có lợi nhuận, nghĩa vụ nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước, hàng năm lại quy định mức tiền lương bình quân chung 900 nghìn đồng không được vượt quá 2 lần… dẫn đến thu nhập đời sống người lao động thấp, không những không thu hút được người giỏi mà còn mất dần nhân tài. Chúng tôi rất mong những khó khăn trở ngại hiện nay, vừa nêu sẽ sớm được khắc phục.
Phóng viên: xin cảm ơn ông.
Ngô Mạnh Hùng -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Nước khoáng Mỹ Á đạt tiêu chuẩn vệ sinh Hòa Kỳ

Tháng 8 năm 1996, một đoàn du khách Mỹ trong đó có Tom Robery và Johnny Davidson là hai chuyên gia thuộc Hiệp hội ngành nước Hoa Kỳ vào Việt Nam. Trên hành trình từ Phan Rang lên Đà Lạt dọc theo quốc lộ 27 đến km 37 thuộc địa phận xã Tân Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, đoàn đã ghé vào khu du lịch của công ty Trách nhiệm hữu hạn Tân Mỹ Á để tắm nước khoáng nóng trong những bể chứa mà Công ty vừa xây dựng. Khi ra đi, Tom và Johnny đã mang theo mấy chai nước khoáng làm mẫu. Ba tháng sau, Công ty Tân Mỹ Á nhận được thư từ Hiệp hội ngành nước Hoa Kỳ cho biết kết quả xét nghiệm, nước khoáng Mỹ Á đạt tiêu chuẩn vệ sinh Hòa Kỳ, đồng thời AWWA gửi kèm trong thư hồ sơ cùng lời đề nghị Tân Mỹ Á gia nhập hiệp hội. Xét thấy việc đáp ứng đề nghị của AWWA phù hợp với những chính sách đối ngoại mà Đảng và Chính phủ chủ trương, có lợi cho việc kinh doanh của Công ty, thêm điều kiện để các sản phẩm thương mại Việt Nam hội nhập thị trường quốc tế, Tân Mỹ Á tiến hành hoàn chỉnh hồ sơ. Căn cứ vào đó, ngày 13 tháng 8 năm 1997 Hiệp hội ngành nước Hoa Kỳ quyết định công nhận công ty Trách nhiệm hữu hạn Tân Mỹ Á của Việt Nam là thành viên. Giấy chứng nhận mang số hiệu là 396614 do ông chủ tịch hiệp hội ký. Xét nghiệm tính chất hóa lý cho thấy nước khoáng Mỹ Á đạt tiêu chuẩn vệ sinh Của Tổ quốc y tế thới giới. Còn xét nghiệm của Viện Pasteur thành phố Nha Trang ngày 12 tháng 10 năm 1999, kết luận: Nước khoáng Mỹ Á thuộc loại vi lượng khoáng Na và Si tinh khiết, không chỉ tốt cho nhu cầu giải khát mà còn cung cấp các vi lượng khoáng cần thiết cho cơ thể con người như Calcium, Natri, Kali, Magne, Clor, Fluor với hàm lượng tổng cộng là 322 mg cho một lít. Theo quy hoạch khu đất rộng từ 22.720 mét vuông sát kề quốc lộ 27 sẽ được công ty xây dựng thành một khu du lịch, với một nhà máy sản xuất nước khoáng, sản lượng là 15.450.000 lít vào năm 2000 và cứ mỗ năm sau sẽ tăng thêm 10 triệu lít, một cụm nhà nghỉ, một khu bể bơi hồ ngâm, khu nhà hàng, khu dịch vụ… Nước khoáng nguyên liệu được lấy từ mỏ giếng khoan sâu 32 mét dẫn về nhà máy. Môi trường mỏ trong sạch, chung quanh là rừng núi, không có dân cư sinh sống và không có tác nhân nào gây ảnh hưởng xấu đến nguồn nước. Sau 4 năm 1996 đến 1999 triển khai thực hiện dự án chưa hoàn chỉnh, nhưng từ những công trình đã đưa vào sử dụng, người dân Ninh Thuận cùng nhiều du khách thập phương đã được biết đến một Mỹ Á dưới chân hòn Bà lý thú, rất có lợi cho sức khỏe.
Hoàng Tín-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Nhộn nhịp lễ hội Du lịch Quảng Ninh 2000

Ngày 1 tháng 5 năm 2000, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã chính thức khai mạc Lẽ hội Du lịch Quảng Ninh năm 2000 nhân kỷ niệm 5 năm, ngày vịnh Hạ Long được Tổ chức Unesco công nhận là Di sản thế giới, đồng thời khai trương mùa du lịch hè năm 2000. Về dự lễ hội các đại biểu của các ban, ngành Trung ương, tỉnh Quảng Ninh, các tổ chức quốc tế và lãnh đạo nhiều địa phương khác. Thực chất lễ hội đã được diễn ra từ ngày 28 tháng 4 với nhiều hoạt động sôi nổi: thi Hướng dẫn viên du lịch tỉnh Quảng Ninh với 62 thí sinh tham dự, Triển lãm ảnh nghệ thuật Hạ Long, thi múa Rồng – Lân, cùng hoạt động thể thao, văn hóa văn nghệ khác… thu hút hàng vạn du khách quốc tế, trong nước tham dự. Khu du lịch Bãi Cháy rực rỡ cờ, hoa, những dòng người nườm nượp từ các nơi đổ về dự hội. Trong các ngày này, hệ thống khách sạn ở đây hoàn toàn kín chỗ. Tại lễ khai mạc chính thức sau khi kiến thức tiếng trống khai hội hàng trăm chiếc tàu du lịch diễu hành trên mặt Vịnh, biểu dương sức mạnh, sẵn sàng ra khơi phục vụ du khách, một lần nữa khẳng định lời mời chào nồng nhiệt: “Việt Nam, Vịnh Hạ Long – Di sản thế giới, điểm đến của Thiên niên kỷ mới”. Các hoạt động hoành tráng: Màn múa Rồng – Lân, đua thuyền, kéo dù… đã diễn ra đồng loạt ven bờ Bãi Cháy và trên mặt Vịnh. Theo dự kiến của các nhà quản lý, năm 2000, Vịnh Hạ Long sẽ đón lượng khách vượt xa con số 1 triệu Ủy ban nhân dân tỉnh, ngành Du lịch Quảng Ninh và các ban, ngành Du lịch Quảng Ninh và các ban, ngành liên quan đang tích cực chuẩn bị và triển khai các hoạt động cần thiết, nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, bảo đảm cho du khách đến thăm Vịnh Hạ Long thật sự thoải mái, an toàn. Thành công của Lễ hội Du lịch Quảng Ninh năm 2000 mở đầu đầy ấn tượng cho mùa du lịch năm 2000.
Tăng gấp đôi quỹ thưởng xuất khẩu
Theo Bộ Thương mại, năm 2000 quỹ thưởng xuất khẩu sẽ tăng gấp đôi năm 1999, khoảng từ 8 đến 10 tỷ đồng. Qũy được dành để thưởng cho các doanh nghiệp có mặt hàng đặc chủng, loại mặt hàng lần đầu tiên tiêu thụ ở thị trường xuất khẩu mới, kim ngạch từ 100 nghìn đô la Mỹ, riêng doanh nghiệp ở miền núi từ 50 nghìn đồng trở lên. Đồng thời thưởng cho các doanh nghiệp có thành tích mở rộng thị trường xuất khẩu đã có hoặc mở thêm thị trường mới có hiệu quả với mức tăng trưởng kim ngạch là 20%, riêng các tỉnh miền núi và hải đảo là 15%, các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng chất lượng cao được huy chương tại các hội chợ triển lãm quốc tế tổ chức ở nước ngoài hoặc được các tổ chức chất lượng hàng hóa quốc tế cấp chứng chỉ hoặc xác nhận bằng văn bản. Cuối cùng là các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng gia công chế biến bằng nguyên liệu trong nước chiếm 60% giá trị trở lên, hoặc mặt hàng sản xuất thu hút nhiều lao động trong nước với kim ngạch từ 10 triệu đô la Mỹ cho một năm trở lên.
Hỏa Tiễn -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Tiếp tục đẩy mạnh tiến độ cổ phần hóa trong ngành Du lịch

Đến nay toàn ngành du lịch đã có hơn 30 khách sạn quốc doanh chuyển thành Công ty cổ phần, trong đó có 3 khách sạn thuộc các doanh nghiệp của Tổng cục Du lịch là Khách sạn Thái Bình Dương thuộc OSC – Việt Nam, Khách sạn Phương Đông – Công ty Du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng và Khách sạn Duyên Hải – Công ty Duy lịch Hải Phòng. Báo cáo của Ban đổi mới doanh nghiệp Tổng cục Du lịch tại Hội nghị sơ kết công tác cổ phần hóa trong ngành Du lịch do Tổng cục du lịch tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 27 đến ngày 28 tháng 4 năm 2000 cho biết: Ngành Du lịch Hà Nội là đơn vị đang dẫn đầu toàn ngành trong công tác cổ phẩn hóa. Ngành Du lịch Hà Nội đã chuyển 17 khách sạn thành Công ty cổ phần, trong đó có 7 khách sạn thuộc Sở Du lịch Hà Nội quản lý. Các địa phương khác như Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Tây, Vĩnh Phú, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Bình Thuận, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Đồng Nai… đã chuyển từ 1 đến 2 doanh nghiệp thành Công ty Cổ phần. Sau một thời gian cổ phần hóa, hầu hết các Công ty đều đạt hiệu quả cao hơn trước khi cổ phần về doanh nghiệp, nộp ngân sách, lợi nhuận, và thu hơn trước khi cổ phần về doanh số, nộp ngân sách, lợi nhuận và thu hơn trước khi cổ phần về doanh số, nộp ngân sách, lợi nhuận và thu nhập bình quân của người lao động. Các Công ty Cổ phần đã thực hiện trả cổ thức cho cổ đông với mức bình quân từ 0,8% đến 1% một tháng, ở Hà Nội cổ tức bình quân của các công ty Cổ phần từ 0,9% đến 1,5% tháng, Công ty Cổ phần Khách sạn Tây Nguyên – Đắc Lắc đạt cổ tức bình quân là 1,36% một tháng. Các Doanh nghiệp sau khi cổ phần hoa đã sắp xếp công việc hợp lý, không nhân viên nào bị sa thải, các Công ty Cổ phần còn tuyển thêm nhiều lao động trẻ đã được đào tạo. Tại các Công ty Cổ phần ý thức được trách nhiệm của người lao động được nâng cao rõ rệt, tình trạng thờ ơ với công việc, với tài sản chung không còn tồn tại. Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ rõ tiến độ trên đây là rất chậm, toàn ngành chỉ đạt 10% so với yêu cầu. Hầu hết các Công ty Cổ phần hóa đều có quy mô vừa và nhỏ, chỉ có khách sạn Sài Gòn, đơn vị đầu tiên Cổ phần hóa trong ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh trị giá là 18 tỷ đồng, Khách sạn Thủ đô – Hà Nội trị giá là 10 tỷ đồng, còn lại hầu hết các Khách sạn có giá trị từ 1 đến 5 tỷ đồng. Nhiều khách sạn sau khi cổ phần hóa còn giữ lại phần vốn của Nhà nước từ 10 đến 40%. Có Khách sạn giữ lại từ 50 đến 60% vốn của Nhà nước, do đó đã không huy động được vốn của toàn Xã hội để đầu tư, đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển Doanh nghiệp. Các đơn vị có Doanh nghiệp Cổ phần hóa, và các Doanh nghiệp đã Cổ phần hóa đã phát biểu nhiều ý kiến từ thực tế liên quan đến những vấn đề chung, liên quan tới những chính sách chung khi thực hiện Cổ phần hóa như quyền sử dụng đất, thuế thu nhập Doanh nghiệp vốn cho tái đầu tư và đào tạo lại, chế độ tiền lương, tổ chức chính trị và đoàn thể trong Công ty cổ phần, sự không đồng bộ giữa các ngành khi thực hiện chủ trương Cổ phần hóa. Ông Nguyễn Văn Huy, Phó Trưởng ban đổi mới quản lý Doanh nghiệp Trung ương đã ghi nhận những cố gắng của ngành Du lịch ngành đầu tiên tổ chức sơ kết công tác Cổ phần hóa ở quy mô toàn ngành. Ông cũng ghi nhận các ý kiến chung và những ý kiến mang tính đặc thù của ngành Du lịch trong quá trình cổ phần hóa để trình chính phủ. Tại hội nghị này, bà Võ Thị Thắng ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch đã chỉ rõ cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước nhằm thu hút vốn nhàn rỗi của toàn xã hội và nước ngoài để đầu tư, đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển Doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu Doanh nghiệp nhà nước. Vì thế cần tạo điều kiện cho người lao động trong Doanh nghiệp Cổ phần và người đã góp vốn được làm chủ thực sự, thay đổi phương thức quản lý, tạo động lực thúc đẩy Doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, nâng cao thu nhập cho người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước. Toàn ngành cần đẩy mạnh công tác này. Để đạt mục tiêu chuyển 20%, số Khách sạn quốc doanh hiện có thành Công ty Cổ phần trong những năm tới, cần đẩy mạnh công tác giáo dục, vận động, tổ chức trong toàn ngành Du lịch. Trước hết phải chuyển về nhân thức. Cổ phần hóa là tất yếu, tạo điều kiện để hiện đại hóa tạo thế liên kết vững chắc để có thể đứng vững, phát triển trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt để hội nhập khu vực và toàn cầu.
Hồng Trang -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(132)2000.