Dự án nâng cấp chất lượng nước Hồ Tây – Phần 2

Về phân tích tài chính, cơ sở xác định giá thành xây dựng các hạng mục công trình chưa cụ thể, còn ước lệ. Cấu trúc thiết minh dự án rời rạc, tản mạn và nhiều chỗ không rõ ràng”. Về vấn đề này, chúng tôi xin không bình luận thêm mà dành cho các nhà chuyên môn cùng xem xét và có ý kiến.
Xung quanh dự án NCCLNTH vẫn còn nhiều ý kiến về vấn đề này: chất lượng nước sông Hồng, khả năng xử lý nước sông Hồng, xử lý nước thải từ Hồ Tây ra sông Hồng, an toàn đê điều, tác động của việc thay nước đối với hệ sinh thái truyền thống ở Hồ Tây… dĩ nhiên, các ý kiến trên đều bắt nguồn từ tấm lòng yêu quý Hà Nội, ý thức trách nhiệm cao đối với trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế của cả nước. Bài viết này xin kết thúc bằng ý kiến đánh giá một sử gia ông Dương Trung Quốc, Tổng thư ký hội sử học Việt Nam: kinh phí lịch sử cũng như bài học thực tiễn của đời sống cho thấy, chúng ta không nên can thiệp thô bạo vào thiên nhiên mà tìm ra những giải pháp thích hợp để tăng cường khả năng thiên nhiên tự điều chỉnh, trong đó có việc tăng cường ý thức trách nhiệm của con người đối với thiên nhiên cũng như đối với thế hệ mai sau”.
Những phát hiện và phát minh của loài người từ năm 1970 đến năm 2000.
Năm 1971: Liên Xô phóng tên lửa vũ trụ Saliut I và cũng năm nay Hoa Kỳ phóng tên lửa Vikinh lên Sao Hỏa. Các máy móc của Vikinh truyền lại những hình ảnh bề mặt Sao Hỏa về Trái Đất.
Năm 1974: Đonan Iohanson phát hiện tại Etiopia Châu Phi một bộ xương người cổ có niên đại 3,2 triệu năm.
Năm 1976: Máy bay Congcooc siêu âm được đưa vào sử dụng sau một thời gian thí nghiệm bay.
Năm 1981: Hoa Kỳ phóng tàu con thoi lên vũ trụ thành công. Loại tàu này có thể bay trở về Trái đất.
Năm 1985: Pháp và Hoa Kỳ cùng phát hiện ra virut HIV.
Năm 1985: tìm thấy tàu Titanic ở độ sâu 4.200 m. Titanic là tàu biển vượt đại dương lớn nhất và tốt nhất vào đầu thế kỷ 20 – Tàu chở trên 1000 hành khách đi từ châu u sang Bắc Mỹ. Do băng trôi và bị vỡ ra làm đôi, chìm xuống đáy biển năm 1912.
Năm 1986: Hoa Kỳ phóng tàu con thoi Challenger lên tàu vũ trụ. Tàu bị nổ tung sau 1 phút 13 giây cất cánh vào ngày 28 tháng 1.
Năm 1986: ngày 25- 1 xẩy ra sự cố điện nguyên tử Chescnobun và từ đó hình thành một án mây phóng xạ trên bầu trời Châu u. Nhiều quốc gia đã phải hoãn lại các chương trình thí nghệm nguyên tử. Hoa kỳ đã hải hoãn việc phóng các tên lửa đến năm 1988.
Năm 1987: xuất hiện tàu chạy trên đường sắt hoàn toàn tự động ở nước Anh.
Năm 1990: bắt đầu thử nghệm giải mã gen người và lập bản đồ gen trong hệ thống gen người.
Năm 1996: cơ quan vũ trụ Nasa tìm thấy sự sống trên sao hỏa qua một cách nham thạch lấy từ sao hỏa về. Trên mặt hòn đá thấy nhiều dấu vết các loài vi khuẩn. Trước đó, năm 1984, các nhà khoa học cũng nhặt được ở biển băng Bắc Cực một hòn thiên thạch nặng 2 kg từ Sao Hỏa rơi xuống cách nay 13.000 năm. Trên mặt thiên thạch này cũng có dấu vết các vi khuẩn.
Năm 1997: Nhân bản vô tính thành công cừu Dolly ở nước Anh.
Năm 1999: thế giới khắc phục sự cố máy tính Y2K
Năm 2000: giải mã được 97% số lượng gen người và như vậy về cơ bản đã hoàn thành dự án gen người. trên cơ sở đó, các nhà sinh học đã mở ra một triển vọng mới trong lĩnh vực công nghệ sinh học và nhất là trong ngành y để chữa, khám bệnh cho con người.
Ngọc Thanh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Dự án nâng cấp chất lượng nước Hồ Tây – Phần 1

Dự án nâng cấp chất lượng nước Hồ Tây có cần thiết phải thực hiện?
Ngay sau khi Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội có thông báo số 63/TB – VPUB ngày 2.4.2001, về việc thống nhất nội dung chính của dự án “Dự án nâng cấp chất lượng nước Hồ Tây”, ngay lập tức dư luận đã có không ít ý kiến. Nhiều cơ quan thông tin đại chúng đã phản ánh bức xúc của các tầng lớp, đồng thời, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cũng có kiến nghị cho rằng văn bản ngày 3.2.2001 “bày tỏ sự lo lắng và không đồng tình với TP. Hà Nội triển khai dự án Nâng cấp chất lượng nước Hồ Tây (NCCLNHT) khi chưa xem xét một cách đầy đủ và nghiêm túc vấn đề đã được các nhà khoa học và dư luận xã hội nêu lên về tính bất khả thi, hiệu quả kinh tế cũng như tác động tiêu cực của dự án này đối với việc bảo vệ các giá trị sinh thái và văn hóa Hồ Tây
Quả thật, bên cạnh lý do là dự án sẽ ngốn một nguồn tài chính khổng lồ 32 triệu đô la chưa kể lãi vay của Áo, thì sự phản ứng của dư luận còn bắt nguồn từ thực tế: Hồ Tây đã bị ô nhiễm nặng đến mức phải thay nước với khoản tiền lớn đến thế chưa. Nhất là điều kiện hiện tại, việc cung cấp nước sạch cho người dân thủ đô mới chỉ đạt gần 80% và mùa hè nào, người dân cũng phải bòn chắt từng giọt nước cho sinh hoạt tối thiểu, thậm chí nhiều khu vực phải mua nước về dùng. Rồi hệ sinh thái truyền thống ở Hồ Tây di sản thiên nhiên quý của cả nước đã tồn tại hàng năm sẽ ra sao sau khi chất lượng nước đã được làm sạch như nước nước bể bơi?
Trước hết, không thể phủ nhận mục tiêu tốt đẹp của dự án NCCLNHTđã đưa ra là đem lại kết quả bền lâu, chất lượng nước cấp 2 nước dùng cho mục đích vui chơi giải trí, tất nhiên, nếu Hồ Tây đã bị ô nhiễm nặng. Thế nhưng, khi đọc những tài liệu liên quan đến dự án lại thấy có điều cần được lưu tâm. Trong “Báo chí chất lượng môi trường nước và thực ô nhiễm môi trường nước các hồ tại Hà Nội 1997- 1998” của ban chỉ đạo quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường phối hợp với viện khoa học các hợp chất thiên nhiên Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia ghi rõ: “Các kết quả phân tích các chỉ tiêu lý – hóa – sinh học cho thấy nước Hồ Tây tương đối sạch, đáp ứng được các yêu cầu của TCVN 5942 – 1995 về mặt nước”. Cũng trong hồ sơ dự án của NCCLNHT còn có kết quả mẫu nước Hồ Tây của sở KH – CN & MT Hà Nội vào cuối năm 1999 với nội dung: “ các chỉ tiêu phân tích PH, As, Pb, Cr, Cu, Zn, F, NO, phenol đạt tiêu chuẩn cột A của TCVN 5942 – 1995, còn các chỉ tiêu phân tích như BOD5, SS, Mn, Fe, Hg, Ni, Amonia, Xianua đạt tiêu chuẩn cột B của TCVN 5942 – 1995”. Trong kết quả phân tích của Sở Khoa học Công nghệ & Môi trường Hà Nội cũng ghi chú rõ ràng: “Cột A là áp dụng với nước mặt có thể dùng làm nguồn nước sinh hoạt, cột B áp dụng đối với nước dùng cho mục đích khác.
Rõ ràng, với những kết luận mang tính chất khoa học như trên, Hồ Tây không phải đã bị ô nhiễm đến mức cần thay nước. Chỉ có điều đáng tiếc, những số liệu trên nằm trong hồ sơ dự án nhưng hình như lại chưa được những người có trách nhiệm lưu tâm nên việc khẳng định cần thiết phải đầu tư cho Hồ Tây và thống nhất nội dung chính của dự án đã dễ dàng được thông qua.
Với ý thức trách nhiệm cao trong sự nghiệp xây dựng đất nước nói chung và thủ đô nói riêng, nhiều hội thảo khoa học xung quanh dự án NCCLNHT đã được tổ chức. Đa số ý kiến cho rằng, không nhất thiết phải thay đổi Hồ Tây với số tiền không nhỏ như vậy nhất là – khoản tiền lớn ấy chắc chắn con cháu chúng ta sẽ gánh trả nợ. Hơn nữa, Hà Nội đã có dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật xung quanh Hồ Tây đã được nhà nước phê duyệt và triển khai, trong đó có hạng mục xử lý nước thải của các khu dân cư quanh hồ. Như vậy, việc xử lý nguồn gốc làm ô nhiễm môi trường nước hồ đã được giải quyết rồi.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn thấy một số vấn đề đáng lưu tâm khi kết quả thẩm định dự án đầu tư NCCLNHT do công ty tư vấn xây dựng báo cáo: “Mặc dù phương án nêu ra tường đối khá hay những tính tối yêu không rõ vì không có các phương án công nghệ khác để so sánh
Ngọc Thanh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Xóa đói giảm nghèo

Xóa đói giảm nghèo nhờ nuôi rắn, trong khi hàng trăm nhà hàng mỗi ngày lấy rắn làm món ăn đặc sản thì có không ít nơi lại coi đây là con vật giúp họ “xóa đói giảm nghèo”. Hơn thế nuôi rắn còn là việc làm có ý nghĩa sâu xa nhằm bảo vệ sự cân bằng sinh thái đối với môi trường sống. Đầu xuân Tân Tỵ chúng tôi đã có dịp đến thăm một làng rắn như vậy…
Từ chuyện nuôi rắn… Làng Vĩnh Sơn thuộc huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc là nơi có nghề nuôi rắn nổi tiếng từ nhiều năm nay. Theo lời chỉ dẫn của anh Thanh, cán bộ xã Vĩnh Sơn, chúng tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Văn Hoa, một gia đình nuôi rắn với số lượng lớn ở trong làng.
“Chuồng rắn” của gia đình ông rộng chừng 40 m2 có tường, lưới bao quanh bao xung quanh, được xây dựng như hình một chiếc lều hai đầu có hai lỗ hổng. Phải cúi khom người xuống chúng tôi mới nhìn thấy hàng trăm con rắn được nuôi tập trung ở đây.
Ông Hoa kể: “Nhà tôi có nghề nuôi rắn hổ mang hơn chục năm nay, chủ yếu là nuôi rắn hổ mang thường. Nghề này tuy không nhỏ nhưng yêu cầu người nuôi phải thực hiện theo đúng quy trình kỹ thuật từ khi rắn còn bé đến lúc rắn trưởng thành. Tháng 6 bắt đầu là mùa sinh sản của rắn. Rắn còn con sau khi nở được đưa vào nuôi tập trung. Sau thời gian từ 6 đến 7 tháng, khi rắn đã lớn chuyển thành sang nuôi riêng mỗi con một ổ. Các ổ này được xây dựng kiểu hầm liền nhau, sâu từ 40 đến 50 cm, có nắp đậy. Cứ nuôi như vậy cho đến năm thứ 2 mới thành rắn thương phẩm”.
Ông Hoa còn cho biết thêm, làm nghề này tương đối nhàn hạ, mỗi ngày chỉ mất khoảng 1 đến 2 tiếng cho rắn ăn và vệ sinh chuồng trại. Thức ăn chủ yếu của rắn là chuột và cóc nên rất dễ mua.
So với nhiều nghề chăn nuôi khác, nghề nuôi rắn tuy không mất nhiều thời gian và công sức để chăm sóc nhưng lại mang tính chất nguy hiểm bởi chủ nuôi trong khi bắt hoặc cho rắn ăn nếu sơ ý rất có thể bị rắn cắn. Gặp những khi thời tiết không thuận hoặc chăm sóc không tốt rắn rắn rất dễ dễ có thể bị mắc bệnh, chết hàng loạt và chủ nuôi cùng bị mất trắng. Nhưng ngược lại nếu “thuận buồm xuôi gió” thì như nhận xét của ông Hoa – “đây thực sự là một nghề xóa đói giảm nghèo”!
… Đến việc phát triển kinh tế nhờ có nghề. Trong ngôi nhà mái khang trang với đầy đủ tiện nghi, anh Chu Đức. Tiếp, một người nuôi rắn của Vĩnh Sơn khoe: “ Có được những thứ này là nhờ rắn đấy!”. Anh cho biết gia đình tôi bắt đầu nuôi rắn từ năm 1991 cho đến nay. Lúc đầu cũng chỉ nuôi theo kiểu “tính công điểm” cho trại rắn của xã. Khi trại rắn giải thể mới chuyển sang nuôi theo mô hình gia đình. Hiện nay với 100 đầu rắn, bán với giá 200.000 đ/ kg, thì trừ tất cả chi phí chăn nuôi , gia đình thu lãi được từ 10 đến 15 triệu đồng/ năm.
Vĩnh Sơn là một làng quê nghèo, thuần nông của tỉnh Vĩnh Phú, từ khi có nghề nuôi rắn bộ mặt làng quê đã hoàn toàn thay đổi. Ông Nguyễn Văn Quyết, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Vĩnh Sơn cho biết: “ Năm 1979, làng Vĩnh Sơn xây dựng một trại nuôi rắn rộng 2,3 ha chuyên nuôi rắn sinh sản, là nguồn cung cấp rắn cho người dân. Từ năm 1993, trại rắn không hoạt động nữa chuyển về chăn nuôi theo quy mô các hộ gia đình. Việc nuôi rắn theo quy mô gia đình vừa dễ chăm sóc, không phải đầu tư lớn mà hiệu quả cũng cao hơn. Hiện nay 100% hộ nông dân đều nuôi rắn, trong đó 75% hộ nuôi theo số lượng lớn. Một năm toàn xã xuất khẩu khoảng 10 tấn rắn cung cấp cho các thị trường Hà Nội, Quảng Ninh, Tuyên Quang, và bán sang Trung Quốc. Từ nghề nuôi rắn này, chúng tôi đã giải quyết việc làm cho 2.500 lao động địa phương, đồng thời tăng thu nhập cải thiện đời sống của người dân. Năm 1996, cả xã mới có 2 máy điện thoại đến năm 2000 trung bình cứ 54 người có 1 máy, 7 người có 1 tivi màu.
Ông chủ tịch ủy ban nhân dân xã Vĩnh Sơn cho biết: “Theo cơ sở pháp lý, các hộ gia đình nuôi rắn đều phải đăng ký, nhưng thực ra đây là một làng nghề, nên chúng tôi cũng tạo điều kiện để người dân phát triển kinh tế”. Bằng cách trả lời của ông Quyết và qua thực tế tìm hiểu chúng tôi được biết hiện vẫn có một số gia đình nuôi rắn mà chưa đăng ký với xã.
Không chỉ riêng Vĩnh Sơn, hiện nay ở một số địa phương như làng Lệ Mât (Gia Lâm, Hà Nội), hay tại các huyện Thanh Bình, Tam Nông (tỉnh Đồng Tháp) nghề nuôi rắn cũng đang phát triển đưa đời sống người dân đi lên.
Tuy nhiên, bên cạnh việc khuyến khích tạo điều kiện cho bà con phát triển nghề, cần có sự quản lý chặt chẽ hơn để góp phần bảo tồn rắn tự nhiên, làm câ bằng sinh thái, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật của Nhà nước.
Tơ hồng
Theo câu quan họ tôi tìm
Không lời hẹn, vẫn cứ lên với người
Nón quai thao gặp đầy rắc rối!
Vành trăng che nửa nụ cười trao duyên…
Tôi về đây với Hội Lim
Qua cầu muốn lội xuống tìm ca dao
Áo tứ thân chợt thoáng qua
Đã nghe thấy nhịp đạm đà trống Cơm.
Gặp người, chưa kịp làm quen
Liền anh bỗng tới kéo liền chị đi!
Sông Cầu ghen – sóng thầm thì
Mái chèo khua, dáng thuyền đi nhạt nhòa…
Trách gì con nhện thoáng qua
Tơ chăng mỏng mảnh gió lùa tơ bung!
Trống Cơm ai vỗ bập bùng,
Áo tứ thân chắc ướt đẫm như mưa?
Hội Lim có tự ngàn xưa
Về đây vẫn thấy bất ngờ – hội Lim
Vịn câu quan họ tôi tìm
Người ơi có hẹn tôi lên? Một ngày
Xuân Thùy – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

El Nino và tác động của nó đến du lịch

El Nino (tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là chúa Hài Đồng), là tên mà những thủy thủ Pểu đặt cho hiện tượng dòng nước ấm chảy về phía Nam ngoài khơi bờ biển Pêru, Êcuađo, thường bắt đầu từ khoảng lễ Thiên Chúa Giáng Sinh, gây nên những dị thường về khí hậu, thời tiết và tài nguyên vùng bờ Đông Thái Bình Dương, như mưa lớn trong vùng núi cao, hoang mạc và sản lượng cá trỗng trên biển cũng như số lượng chim trên các đảo khu vực giảm mạnh. Ngoài ra, giữa các kỳ El Nino trong khu vực thường xảy ra hiện tượng La Nina, gây khô hạn nghiêm trọng những vùng vốn khan hiếm nước trong khu vực.
Sau đó, các nhà khoa học nhận thấy El Nino và La Nina có mối liên hệ nội tại với các hoàn lưu khí quyển cầu và các nhiễm loạn của dao động Nam Bán cầu (gọi tắt là SO), gây biến động thời tiết, khí hậu các nước trong và ven biển Thái Bình Dương. Do đó người ta sẽ đặt cho toàn bộ quá trình một cặp tên chung: ENSO nóng là El Nino va Dao sông Nam, còn ENSO lạnh là La Nina và Dao động Nam. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người ta vẫn quen dùng thuật ngữ El Nino và La Nina hơn.
Trước đây, El Nino chỉ gây biến động thời tiết khu vực ven bờ Thái Bình Dương. Nhưng hai kỳ El Nino cuối đã gây ra những biếng động khí hậu quy mô toàn cầu. Diễn biến một kỳ El Nino trước đây chỉ vài tháng, nay kéo dài hàng năm. Hệ quả của El Nino là không thể tính được hết, đặc biệt là khi nó cộng hưởng với những nhiễu động thời tiết khu vực khác. Người ta có ý cho rằng sự gia tăng quy mô không gian và thời gian của thảm họa El Nino có liên quan với sự nóng lên của trái đất và là một bộ phận của biến đổi khí hậu toàn cầu.
Dấu hiệu đầu tiên để nhận biết El Nino sắp xuất hiện là nhiệt độ mặt nước biển Thái Bình Dương nóng lên. Trong giai đoạn từ 1950 – 2000 người ta sẽ quan sát được 14 lần El Nino và 10 lần La Nina 1998- 2000 đi kèm ngay sau El Nino 1997 – 1998 là một La Nina dài nhất. Những năm xảy ra El Nino gần đây là 1925, 1930, 1941- 1942, 1972 – 1973, 1976 – 1977, 1982 – 1983, 1997 – 1998, trong đó El Nino cuối cùng được ghi nhận là El Nino mạnh nhất.
Bức tranh toàn cảnh về El Nino trong những năm gần đây biểu hiện sự giảm going bão, giáng thủy ở vùng lân cận Nam Mỹ, Đông Nam Á, Bắc Australia, gây hạn dị thường ở một số khu vực như Bắc Australia, Inđônêxia, Philippin. Trong khi đó, dải đất hoang mạc duyên hải Pêru và vùng núi Anđet lại mưa lớn gây ra nhiều thảm họa như lũ quét, trượt đất dữ dội: Bão nhiệt đới rất mạnh đổ bộ vào vùng Bắc Mỹ, vùng biển các bang miền Tây Mêhicô và nước Mỹ nóng lên, xuất hiện những trận mưa lũ vào lúc đáng lẽ nơi đây phải là mùa đông tuyết phủ. Tất cả những bất thường của thời tiết ấy đã gây nên nhiều hệ quả tai hại cho thiên nhiên môi trường nói chung và cho kinh tế xã hội nói riêng.
Theo những nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc tổng cục Khí tượng Thủy văn Việt Nam, trong thời kỳ El Nino, tần số bão đổ bộ vào Việt Nam giảm, mùa nóng dài hơn bình thường, nhiệt độ không khí (rõ rệt nhất là ở vùng phía Nam?) mùa mưa ngắn, bắt đầu chậm, kết thúc dơm, lượng mưa các tháng bắt đầu giảm, nhất là vùng Bắc Trung Bộ. Do vậy hạn hán nghiêm trọng xảy ra thường xuyên trong thời kỳ El Nino, gây hệ quả xấu cho các hệ sinh thái tự nhiên và tổn hại nghiêm trọng cho nền kinh tế. Chỉ tính riêng trong El Nino 1997- 1998, hạn hán đã gây thiệt hại cho nền kinh tế nước ta tới 5.000 tỷ đồng.
Du lịch là một ngành kinh doanh nhạy cảm với các biến đổi khí hậu thời tiết và hệ quả của nó. Trong thời kỳ El Nino, sự giảm số cơn bão đổ bộ vào Việt Nam, tăng số ngày nắng, giảm lượng mưa và thời gian mưa rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tăng nhu cầu du lịch, góp phần tăng khả năng thỏa mãn tâm lý khách trong khi đi du lịch. Trong khi đó, thời tiết quá nóng, tổn thất kinh tế do hạn hán, suy thoái môi trường do cạn kiệt tài nguyên nước sạch, suy thoái hệ tinh thái tự nhiên lại có thể làm những tác nhân tiêu cực tới quá trình kích cầu du lịch. Theo ông Bùi Xuân Thông, Tiến sĩ, Phó giám đốc trung tâm khí tượng thủy văn biển: “Hiện nay, Viện khí tượng thủy văn đang nghiên cứu sẽ nhanh chóng thông báo diễn biến của hiện tượng để các ngành nói chung và du lịch nói riêng nắm bắt và phòng chống kịp thời những biến động El Nino nhằm giảm bớt những thiệt hại đáng kể.
Hội chợ đầu tư APEC lần thứ hai.
Hội chợ đầu tư APEC lần thứ hai với chủ đề “ Đầu tư vào Châu Á – Thái Bình Dương, đầu tư vào tương lai” sẽ được tổ chức từ 6 – 15/6/2001 tại Yên Đài, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. 21 thành viên APEC sẽ tham gia hội chợ với 4 nội dung chính: Hội thảo về chính sách đầu tư, diễn đàn các cấp các nhà doanh nghiệp APEC , đàm phán về hợp tác đầu tư, triển lãm nhằm giới thiệu môi trường, chính sách và các hạng mục đầu tư. Đoàn Việt Nam dự hội chợ đầu tư APEC gồm các đại diện Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ thương mại, tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Quảng Ninh và sở Công nghiệp Hà Nội.
Hoàng Thu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Các loại biển báo hiệu đường bộ

Điều lệ báo hiệu Đường bộ ban hành kèm theo Quyết định số 3485/KHKT ngày 12/11/1984 của Bộ Giao thông vận tải quy định có 6 loại biển báo hiệu như sau:
Loại biển báo nguy hiểm:
Hình tam giác đều, viền đỏ, nền vàng, hình vẽ màu đen chỉ rõ tính chất nguy hiểm ở phía trước cần phòng ngừa và xử trí theo tình huống.
Loại biển này dùng để báo cho người sử dụng đường, đặc biệt những người lái xe biết sự cố nguy hiểm trên đường để đề phòng những tai nạn có thể xảy ra. Gặp biển báo nguy hiểm, người lái xe phải giảm tốc độ, chú ý quan sát và chuẩn bị sẵn sàng xử trí những tình huống có thể xảy ra để phòng tai nạn trên đường.
Loại biển báo cấm:
Có dạng hình tròn (trừ kiểu biển số 222 “STOP” có hình 8 cạnh đều) nhằm báo điều cấm hoặc hạn chế mà người sử dụng đường phải tuyệt đối tuân theo. Hầu hết các biển có viền đỏ, nền màu trắng, trên nền có hình vẽ màu đen đặc trưng cho điều cấm hoặc hạn chế sự đi lại của các phương tiện cơ giới, thô sơ và người đi bộ.
Biển có hiệu lực bắt đầu từ chỗ đặt biển trở đi. Trường hợp phía dưới biển có đặt biển 502 (khoảng cách đến đối tượng báo hiệu) thì hiệu lực của biển từ sau khoảng cách ghi trên biển phụ.
Loại biển hiệu lệnh:
Hình tròn, nền xanh lam, hình vẽ nền màu trắng, báo cho người tham gia giao thông biết hiệu lệnh phải thi hành, tuân theo sự chỉ định về hướng xe đi, về, loại xe hoặc người đi bộ được đi qua và về tốc độ xe tối thiểu.
Loại biển chỉ dẫn:
Hình chữ nhật hoặc hình vuông, nền màu xanh lam, hướng dẫn người tham gia giao thông về những điều cần thiết, đồng thời có tác dụng giúp cho việc điều khiển và hướng dẫn giao thông trên đường được thuận lợi, đảm bảo an toàn chuyển động.
Loại biển phụ:
Hình chữ nhật hoặc hình vuông, nền trắng, viền đen, ký hiệu và màu chữ đen. Biển này đặt kèm theo biển báo nguy hiểm, báo cấm, báo hiệu lệnh, chỉ dẫn để bổ sung ý nghĩa của biển.
Loại biển viết chữ:
Hình chữ nhật, màu xanh lam, chữ màu trắng hoặc nền đỏ chữ màu trắng để chỉ dẫn, báo hiệu lệnh đối với người đi bộ và điều khiển xe thô sơ.
Chuẩn bị cho du lịch xuyên rừng
Chuẩn bị cho du lịch xuyên rừng (như chinh phục rừng Quốc gia Cúc Phương, rừng Quốc gia Ba Vì, rừng Quốc gia Cát Bà) bạn không nên trang phục áo, váy rộng. Tốt nhất nên mặc quần Jean, quần kaki có túi ở bên hông. Trong túi nên đem theo một lát gừng và một chai giấm nhỏ, phòng khi bị cảm hoặc bị xước da, dùng gừng giã nhỏ, chắt nước bôi vết thương hoặc uống một hớp chống xây xẩm mặt mày, cảm gió. Nếu thấy nôn nao hoặc đau bụng, pha một thìa giấm vào nước sôi uống sẽ đỡ đau và dễ chịu.
Nếu muốn mua quần jean và túi ngủ, nên mua ở phố Hai Bà Trưng vải bò ngoại (do thợ Sài Gòn may) giá 65.000đ – 85.000đ/c. Quần Jean của Trung Quốc mua ở phố Hàng Đào, Hàng Đường 55.000 – 110.000đ/c, quần Jean của Hàn Quốc 145.000đ – 210.000đ/c. Nếu mua túi ngủ đơn bằng lụa tơ tằm pha sợi tổng hợp (màu mận, màu xanh, tím than) giá 105.000đ/c, còn túi ngủ đôi giá 165.000đ/c. Bạn có thể tìm mua ở Hợp tác xã Vạn Phúc – thị xã Hà Đông (cách 1,5km) ven sông Nhuệ.
Công ty du lịch dịch vụ dầu khí việt nam: đại hội đại biểu công nhân viên chức năm 2001
Ngày 27/4/2001, tại Vũng Tàu, Công ty Du lịch Dịch vụ Dầu khí Việt Nam đã mở đại hội đại biểu công nhân viên chức năm 2001. Dự đại hội có 119 đại biểu thay mặt cho gần 2000 Cán bộ công nhân viên toàn Công ty.
Năm 2000, Công ty thực hiện tổng doanh thu 363 tỷ đồng, bằng 115,9% kế hoạch, trong đó, khối trực thuộc đạt 190 tỷ đồng bằng 117% kế hoạch, khối liên doanh và Công ty cổ phần đạt 173 tỷ đồng bằng 116,10% kế hoạch. Nộp ngân sách cho Nhà nước 37,1 tỷ đồng, bằng 125,58% kế hoạch. Thu nhập bình quân của người lao động đạt 960.000 đồng/người/tháng. Công suất phòng đạt 51,6%, tăng 5,03% so với năm 1999. Kinh doanh dịch vụ dầu khí có mức tăng trưởng cao. Năm 2001, Công ty phấn đấu tăng 10% doanh thu so với năm 2000, nộp ngân sách 45 tỷ đồng, cơ sở vật chất được đổi mới và phát triển theo yêu cầu sản xuất kinh doanh bảo toàn và phát triển vốn, cải thiện đời sống Cán bộ công nhân viên.
Hải dương: lượng khách du lịch tăng 19,8%
Tính đến cuối tháng 4/2001, Hải Dương đã thu hút được 35.000 lượt khách, tăng 19,8% so với cùng thời gian năm 2000. Trong đó khách trong nước là 30.269 lượt, tăng 39%, khách nước ngoài là 5.200 lượt, tăng 2%. Số ngày khách lưu trú đạt 36.092, tăng 22%; Nộp ngân sách trên 20 triệu đồng.
H.V.H – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 18(181)2001

Côn đảo – thiên đường du lịch phương đông – Phần 2

Hơn nữa, đảo chỉ cách đất liền khoảng 95 hải lý (180 km) nhưng phương tiện vận chuyển cho du khách đến với đảo là điều cần quan tâm. Nếu sử dụng đường hàng không với 50 phút đi bằng máy bay trực thăng có sức chở 24 người, thì việc đăng ký chuyến bay rất khó (3 chuyến/tuần) và giá vé (500.000 đ/lượt) lại nằm ngoài tầm tay của nhiều cư dân và du khách quốc tế đang sinh sống, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh muốn đi nghỉ cuối tuần tại Côn Đảo. Còn phương tiện đường thủy, việc đưa tàu Côn Đảo 9, trang bị khá tốt tiện nghi phục vụ, có sức chứa 250 người khởi hành từ Sài Gòn là sự cố gắng lớn của những nhà quản lý. Tuy nhiên, với 30 tiếng nằm trên tàu (cả lượt đi, về) nhưng thiếu phương tiện giải trí, các dịch vụ hỗ trợ, dễ gây tâm lý nhàm chán cho du khách, đồng nghĩa với việc nhà đầu tư lại mất cơ hội thu lại nguồn thu nhập đáng kể từ việc khai thác lĩnh vực F&B (thức ăn và đồ uống) cao cấp, bởi lẽ khách du lịch lúc nào cũng muốn chi tiêu những khoản ngân sách đã được định sẵn trong kế hoạch chuyến đi của mình. Người viết bài rất chia sẻ với tâm sự của ông Ninh, khi thời gian cho ra đời một chiếc tàu đã mất 1 năm với vốn đầu tư khoảng 14 tỷ đồng, mà sau một năm đưa vào sử dụng đã thấy lạc hậu về công nghệ. Thế nhưng, mục đích của tàu trong tuyến Côn Đảo là phục vụ hầu hết cho đối tượng khách du lịch. Vì thế, nên chăng có sự tham gia của ngành Du lịch trong việc khai thác loại hình vận chuyển này?! Mặt khác, hệ thống lưu trú tại đảo lại không đáp ứng được nhu cầu phục vụ trong những đợt cao điểm với đoàn có số lượng lên đến 200 khách. Mặc dù có 3 doanh nghiệp (ATC, Saigon Tourisr, Phi Yến) cùng tham gia vào kinh doanh lĩnh vực này nhưng cũng chỉ đạt được số phòng tiêu chuẩn ở mức 35 và 100 giường tập thể… Theo nhiều nhà kinh doanh lĩnh vực này thì thủ tục về nhà đất là yếu tố gây trở ngại chính cho vấn đề mở rộng.
Những ngày chúng tôi ở Côn Đảo cũng là lúc đoàn công tác của Bộ Văn hóa – Thông tin ra khảo sát hệ thống di tích lịch sử nhà tù Côn Đảo để kịp hoàn thành dự án phục hồi với vốn đầu tư lên đến 60 tỷ đồng. Ngoài ra, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũng thông qua quy hoạch để biến Vườn quốc gia Côn Đảo thành khu du lịch sinh thái: Dự án nâng cấp sân bay Cỏ Ống, đáp ứng phục vụ được loại máy bay ART với giá vé 300.000đ/lượt cũng được Tổng Công ty Hàng không Việt Nam tiến hành khảo sát. Như thế, triển vọng Côn Đảo trở thành một khu du lịch phức hợp với nhiều lợi thế khai thác từ du lịch biển, với những bãi biển cát trắng trải dài dưới mặt nước xanh màu ngọc bích tĩnh lặng, có những rặng san hô tuyệt đẹp và loài bò biển (loài động vật được xếp vào sách đỏ thế giới), rừng với hệ động thực vật nguyên sinh và hệ thống di tích nhà tù, nghĩa trang liệt sĩ Hàng Dương… chỉ còn là vấn đề thời gian. Khi đó, mỏ khí Nam Côn Sơn được đưa vào khai thác sẽ là yếu tố để Côn Đảo phục vụ thêm đối tượng khách khác là những chuyên gia, kỹ sư về dầu khí. Và các công ty lữ hành Thành phố Hồ Chí Minh lại có thêm điểm để khai thác tour cuối tuần phục vụ cho du khách.
Hữu Vinh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Côn đảo – thiên đường du lịch phương đông – Phần 1

Chúng tôi đến Côn Đảo trong ánh bình minh vừa ló rạng từ phía chân cầu Cảng Bến Mới. Sau 15 giờ trên con tàu Côn Đảo 9, được đánh giá là “khá” nhất từ trước đến nay trong các loại phương tiện đường thủy dẫn đến hòn đảo này, cơn mệt mỏi đã nhanh chóng xóa tan trong lòng các bạn trẻ bởi nét quyến rũ của hòn đảo từng được người Tây mệnh danh là “Thiên đường của phương Đông”. Nhưng đối với thế hệ cha ông, cuộc hành trình về nguồn lần này mang đến cho họ những ký ức về “địa ngục trần gian” với 113 năm giam cầm những người Việt yêu nước…
Chị Nguyễn Thị Cúc, người cựu nữ tù chính trị Côn Đảo năm xưa giờ là Phó chủ tịch Công đoàn của Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (Saigon Tourist) đã khóc khi đứng trước “chuồng cọp”. Không thể tưởng tượng nổi được sự dã man, tàn bạo mà thực dân Pháp và Mỹ – ngụy đã gây ra cho những thế hệ người Việt yêu nước khi bị lưu đày ra đây. Khi ấy, trong một lần xuống đường đấu tranh, chị đã bị bắt và bị đày ra Côn Đảo. Chị tâm sự: “Tuy là người trong cuộc nhưng tôi cũng thấy sự chịu đựng của những người đi trước quả là quá mức tưởng tượng. Tôi không hiểu lúc ấy vì sao tôi chịu được, chắc là vì sức trẻ và lý tưởng mà thôi”. Vâng, khi đứng trong chuồng bò, nhìn những du khách trẻ tuổi đứng trầm ngâm một cách im lặng, chăm chú lắng nghe lời thuyết minh của hướng dẫn viên, mới thấy sức hút của câu chuyện đầy máu và nước mắt của cha ông đã ngã xuống tại nơi này. Từng địa danh cầu Ma Thiên Lãnh, cầu tàu 914, sân bay Cỏ Ống, hệ thống hàng rào nhà chúa đảo, dãy nhà tù biệt giam, trại giáo huấn Phú Hải, trại Phú Tường… đều còn giữ nguyên hiện trạng ban đầu như một minh chứng về nỗi đau của dân tộc Việt trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do. Không chỉ riêng chị Cúc, trong Ban Giám đốc của Saigon Tourist có đến 3 thành viên cấp cao từng là cựu tù Côn Đảo, cho nên chuyện Saigon Tourist là nhà tiên phong ra Côn Đảo làm du lịch vào năm 1996 là không lạ gì. Vì Côn Đảo, ngoài sức hút của loại hình du lịch về nguồn, giáo dục học tập cho thế hệ trẻ… còn là thắng cảnh bến Dốc, Đầm Trầu, Vườn quốc gia Côn Đảo… phù hợp cho loại hình du lịch sinh thái (eco-tourism) phát triển.
Sự thật hôm nay, Du lịch Côn Đảo đang trở mình. Theo ông Hứa Ngọc Ninh, Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Côn Đảo thì: mũi nhọn kinh tế của Côn Đảo là Dịch vụ cảng biển và Du lịch. Trong ba hòn đảo phía Nam là Phú Quí, Phú Quốc và Côn Đảo thì Côn Đảo có hệ thống cơ sở hạ tầng tốt hơn cả. Hệ thống đường đến khu dân cư đều được cải tạo và nâng cấp đúng chuẩn. Đặc biệt là đường Tôn Đức Thắng, dài 4,1km (vốn là bến Andovard thuở nào) vừa được khánh thành vào ngày 20/3/2001, được mở rộng 7m với dải phân cách hai chiều là hàng cây bàng cội được trồng từ thời Pháp, có lắp đèn chùm chiếu sáng công cộng cùng với kè biển dài 1,6km, mặt kè rộng 1m được rải đá tarepot chống sóng biển lớn.
Năm 2000, khách đến Côn Đảo hơn 15.000 lượt, trong đó du khách quốc tế là 4.258 lượt, tăng 385,3% so với năm 1999. Một tín hiệu lạc quan cho ngành Du lịch ở vùng đất này. Tuy nhiên, lưu trú của khách ở Côn Đảo lại không dài, tối đa là một ngày. Nhiều lần Saigon tourist phối hợp với hãng tàu Star Cruise để đưa Côn Đảo vào lịch trình tour đường biển của hãng, nhưng không thể khai thác hết công suất vì so với Hải Nam (Trung Quốc), Phu Khét (Thái Lan) hoặc Phú Quốc thì ngoài việc tắm biển và thăm thú bảo tàng, di tích nhà tù, khách chẳng còn có cơ hội tiêu tiền cho việc mua sắm, sử dụng dịch vụ từ biển và ăn uống trên đảo.
Hữu Vinh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Trẻ em “khát” sân chơi

Cách đây hơn 10 năm, do chủ yếu dựa vào bao cấp của Nhà nước nên các Nhà Thiếu Nhi (NTN) hoạt động một cách có hệ thống và đạt hiệu quả cao. Chuyển sang thời kinh tế thị trường, kinh tế không còn dồi dào và không được thiết lập nữa nên chỉ còn lại một số ít Nhà Thiếu Nhi các thị xã, thành phố trụ được. Theo thống kê của Hội đồng Đội Trung ương, thì với hơn 100 Nhà Thiếu Nhi đang hoạt động trên cả nước liệu có đáp ứng được nhu cầu vui chơi, giải trí của các em?
Hiện nay, trên địa bàn thủ đô chỉ có duy nhất cung thiếu nhi Hà Nội là điểm văn hóa dành riêng cho các em. Trung bình mỗi dịp hè Cung đón khoảng 150.000 lượt em tham gia vào các chương trình như: đu quay, trò chơi điện tử, bập bênh, học đàn, hát, vẽ… Nhưng toàn thành phố chỉ có một cung thiếu nhi thì…? Ông Nguyễn Tiến Dũng – Phó giám đốc Cung Thiếu nhi Hà Nội cho biết: “ Hệ thống Nhà Thiếu Nhi của ta hiện nay qua thiếu. Đã thế, phần lớn lại đang hoạt động yếu ớt, cầm chừng. Vì vậy, điểm vui chơi cho trẻ em vốn đã thiếu, lại càng thiếu hơn, gây nên một thiệt thòi lớn cho các em”.
Qua khảo sát thực tế, đa số Nhà Thiếu Nhi hiện đang rơi vào tình trạng bế tắc, không những không phát triển mà còn có dấu hiệu teo dần đi. Đặc biệt ở địa bàn nông thôn. Tại các tỉnh nghèo không có đủ kinh phí nên phải hoạt động theo hướng “lấy ngắn nuôi dài”, cho thuê những khoảng trống tận dụng được để lấy tiền để đắp vào hoạt động giáo dục. Nhưng từ đây, cũng nảy sinh ra nhiều vấn đề là ở một nơi Nhà Thiếu Nhi bị biến thành quán nhậu, tiệm cafê, karaoke hay điểm chiếu phim trường. Vậy là nghiễm nhiên, một địa chỉ văn hóa bỗng chuyển thành một tụ điểm phức tạp, dễ phát sinh tệ nạn xã hội. Hơn nữa, Nhà Thiếu Nhi ở nông thôn hoạt động chủ yếu trên cơ sở phong trào, chưa có một phương pháp thiết thực. Vì thế chỉ nổi lên một thời gian rồi lại tắt ngấm.
Nét chung hiện nay là do tiếp nhận lại từ một cơ quan đã chấm dứt hoạt động nên thiết kế, quy mô của hầu hết các Nhà Thiếu Nhi không phù hợp với hoạt động học tập, giải trí và cũng không có khả năng phục vụ số lượng học viên quá đông. Nhiều điểm, cơ sở vật chất đã xuống cấp nhưng cũng không có kinh phí sửa chữa. Thậm chí có nơi còn bị các cơ quan chiếm. Ông Vũ Văn Dũng, hiện đang công tác tại văn phòng tư vấn gia đình – trẻ em của UBBVCSTE huyện Từ Liêm (Hà Nội) than vãn: “Khi xây dựng Nhà văn hóa, ngay vấn đề xin được đất cũng gặp khó khăn, nhưng nếu được thì thường đất cũng ở xa khu dân cư, thậm chí gần sông, ao, hồ, nên khó thu hút được các em”. Đây cũng là tình trạng chung của nhiều địa phương khác đáng mắc phải.
Có một thực tế là, muốn tự tồn tại, những người quản lý Nhà Thiếu Nhi phải tìm đến thị hiếu của các em. Từ đây dễ biến một trụ sở sinh hoạt thiếu nhi thành một trung tâm dạy thêm, học thêm. Nhưng để có điều kiện học thêm thì không phải em nào cũng có. Chẳng hạn, để theo học khóa hoàn thiện kỹ năng nghe nói tiếng Anh cần khoảng 300.000 đồng, học đàn (ghita, Ooc- gan…) từ 400.000 – 600.000đ/ tháng… Thế là con nhà nghèo chỉ biết nhìn… mà thèm! Trong công ước Quốc tế về quyền trẻ em có ghi: “… trẻ em có quyền được vui chơi, giải trí…”. Nhưng để các em vui chơi, giải trí bổ ích, chúng ta phải tạo ra được những sân chơi lành mạnh, mà trước hết là có cách quản lý thích hợp đối với các Nhà Thiếu Nhi, để nơi này thực sự là những điểm vui chơi chính của tất cả các em.
Bình Thuận thêm ba dự án 100% vốn nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực du lịch.
5 tháng đầu năm 2001, tại Bình Thuạn đã thu hút thêm 3 dự án 100% vón đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực du lịch, nâng tổng số dự án 100% vốn nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực du lịh tại tỉnh này lên 7 dự án.
3 dự án mới đó là: dự án Khu du lịch Cát Trắng (Anh) sẽ xây dựng khu nghỉ mát gia đình tại xã Phú Hải (Phan Thiết), dự án Khu du lịch EO (Úc) với việc hình thành khu vui chơi ở xã Hàm Tiếu (Phan Thiết) và dự án du lịch lặn biển (Hàn Quốc) tại Vĩnh Hảo (Tuy Phong).
Hà Nội phát triển hệ thống đèn tín hiệu giao thông
Theo Sở Giao thông công chính Hà Nội, đến nay, dự án Hệ thống đèn tín hiệu giao thông do chính phủ Pháp viện trợ và Công an thành phố Hà Nội là chủ đầu tư hoàn thành xong việc xây dựng và đưa vào vận hành 105 nút giao thông có đèn điều khiển, 20 camera và 6 máy đếm xe.
Được biết, Sở Giao thông Công chính Hà Nội đang phối hợp với Công an thành phố khảo sát, đánh giá hiện trạng hệ thống đèn tín hiệu giao thông để lập kế hoạch duy tu; đồng thời, xem xét các vị trí thí điểm cho phép người tham gia giao thông được rẽ phải, rẽ thái thuận chiều khi có đèn đỏ một cách hợp lý. Bên cạnh đó, Sở cũng đang nghiên cứu để xây dựng thêm hệ thống đèn tại một số nút giao thông cần thiết như Đại Cồ Việt – Tạ Quang Bửu – Hoa Lư, Nguyễn Chí Thanh – Láng – Trần Duy Hưng v.v… và khảo sát để dỡ bỏ đèn tín hiệu tại các vị trí bất hợp lý hoặc không cần thiết.
Thu Thảo – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Lên đồng “cần loại bỏ những yếu tố lạc hậu”

Lên đồng là một thể loại hát múa biểu diễn thuộc nhóm nghệ thuật hát múa dân gian. Lên đồng có đặc điểm tương tự như múa hát đưa linh, múa hát xoan đúm ả đào, múa hát trừ tà trục quỷ, múa lân, múa tứ linh, múa rồng… để phục vụ cái linh thiêng và thể hiện ước vọng có một đời sống cộng đồng tốt đẹp hơn.
Những giá đồng thường được gọi về nhập hồn vào người hầu đồng là những nhân vật có công lao với cộng đồng dân tộc. Đó là những nhân vật xa lạ với thế giới mê tín, đóng góp công sức vào sự tồn tại của cộng đồng trên các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và là biểu tượng của dân tộc hoặc của một vùng. Bên cạnh những nhân vật có thật trong lịch sử, người ta còn linh thiêng hóa đối tượng cá thể như thờ con sông, cái cây hay con vật cụ thể nào đó, dần dà đi đến linh thiêng hóa cả một chủng loại, như một thần tính cho các dòng sông (Mẫu Thủy phủ), một thần tính cho các rừng rú núi non (Mẫu Thượng ngàn), một thần tính cho chín cõi trời (Cửu thiên huyền nữ), một thần tính cho mỗi vùng (bà chúa Xứ)… và tạo nên tín ngưỡng đa thần. Từ những nhân vật có thật trong lịch sử được thần thánh hóa và những vị thần thánh trong tín ngưỡng đa thần, lên đồng bao gồm thanh đồng (gồm 5 giá: Trần Hưng Đạo, Quan Vân Trường…), đồng cốt (gồm các giá công chúa Liễu Hạnh, mẫu Thượng ngàn, mẫu Thủy phủ, Huyền Nữ Cửu Thiên, bà chúa Xứ); đồng đức ông (giá ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Mười); đồng cậu (gồm 12 giá: cậu Cả, cậu Bé..); đồng cô (gồm 12 giá: cô Cả, cô Đôi, cô Bơ, cô Sáu, cô Chín, cô Mười…) và đồng cô bóng cậu mang tính địa phương, không có tên gọi cụ thể, tức là chưa được tính cách hóa.
Những người hầu đồng thường rất cẩn thận, kỹ càng khi sửa lễ dâng lên các vị thánh thần hàng quan (thanh đồng), đồ lễ dâng lên là chè, thuốc và rượu; các vị nữ thần hàng chầu (đồng cốt), lễ vật lại là trầu cau, lương thực. Hoa quả, bánh kẹo dùng để cúng tiến hàng cô, hàng cậu. Ở mỗi giá đồng, người hầu đồng lại có người giúp thay trang phục để phù hợp với hồn của giá đồng đó. Để hầu đủ 36 giá, người hầu đồng sẽ ăn vận 36 trang phục khác nhau, như bộ áo xanh lam, tay cầm đao ở giá đức thánh Trần; áo vàng, đai đỏ, tay cầm cờ trong giá ông Hoàng Mười; hay áo tím, váy xanh đen trong giá cô Bé… Khi đã nhập đồng, người hầu đồng say sưa nhảy múa trong tiếng nhạc lời ca với những biểu hiện khác nhau, khi tươi tắn, khi trang nghiêm và luôn tay phát lộc, phát tiền cho những người dự lễ. Cuối buổi hầu đồng, các loại vàng mã (tiền âm, voi, ngựa giấy, hình nhân…) được đốt hết để cúng tiễn hồn. Sau đó, người vừa hầu đồng sẽ bày cỗ khoản đãi khách mời dự lễ lên đồng và cả những khách thập phương đi lễ tại đền ngày hôm đó.
Nếu có đủ điều kiện kinh tế, mỗi năm, người đi hầu đồng thường có hai buổi lễ lên đồng; lễ cầu tài lộc đầu năm và lễ tạ cuối năm. Cảm giác sau buổi lễ lên đồng của những ông đồng, bà cốt là khỏe mạnh hơn, tin tưởng cuộc sống tương lai sẽ yên ổn và tốt đẹp. Tuy nhiên, để tổ chức được buổi lễ lên đồng, người hầu đồng phải chi phí rất tốn kém. Chị Phùng Thị Thảo ở Phú Xuyên, Hà Tây là người đã theo hầu đồng 3 năm liền, cho biết: sắm đủ trang phục cho một buổi lên đồng hết khoảng 7 triệu. Đó là chưa kể đến các khoản sắm lễ hương hoa, oản quả và vàng mã, tiền bồi dưỡng dàn nhạc, chi phí đi lại…Khoản tiền này là lớn so với thu nhập bình quân đầu người hàng năm của người Việt Nam. Theo bà Lê Thị Hoan ở Hàng Mã (Hà Nội), trong chuyến đi hầu đồng đền Mẫu ở Trái Hút, Bảo Hà (Lào Cai) tháng 3 vừa qua, bà cũng đã tiêu tốn hàng chục triệu đồng.
Tuy nhiên, do lên đồng có từ nhiều năm, nên đã có những yếu tố lạc hậu. Vì vậy công việc mà ngày nay cần làm bên cạnh việc gìn giữ nét văn hóa dân gian là lọc bỏ các yếu tố lạc hậu, mê tín, lãng phí như đốt vàng mã, ngựa giấy, hình nhân thế mạng, sắm sửa lễ vật đắt tiền, cỗ bàn linh đình. Nhu cầu xã hội luôn gia tăng, đòi hỏi sự sáng tạo thường xuyên của con người, nhưng làm sao có thể sáng tạo được khi người ta chìm đắm trong trạng thái thụ động, chờ đợi ở thế lực siêu nhiên ban tặng? Việc bài trừ yếu tố mê tín trong tín ngưỡng là việc cần được tiến hành khẩn trương, song cũng là một quá trình đòi hỏi sự kiên nhẫn khi làm, bởi nó là sự tháo gỡ lớp văn hóa già nua, lạc hậu và sự gieo trồng yếu tố văn hóa mới vào nhiều thế hệ có tâm lý khác nhau, không thể làm trong một lần và trong một thời gian ngắn ngủi hoặc đứt quãng.
Nguyễn Quỳnh Hoa – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Tập tục lạ của người Đôgôn

Tại Đông Nam Á quốc gia Mali (Châu Phi) có một cao nguyên đá vôi chạy dọc theo biên giới, rộng 80 km, cao từ 470 m đến 1.120 m. trên cao nguyên có bộ tộc Đôgôn khoảng 8000 người sống trong những bản làng nằm rải rác.
Bộ tộc người Đôgôn tới đây cư trú bao giờ không rõ. Ngay cả những người Đôgôn cũng biết qua câu chuyện truyền khẩu: tổ tiên của họ trước kia sống ở đồng bằng, sau đó bị các bộ tộc khác mạnh hơn xâm chiếm đất đai và họ phải chạy lên cao nguyên núi đá.
Cuộc sống trên cao nguyên khá vất vả, nhưng người Đôgôn không hề bị đối vị họ trồng trọt rất giỏi và biết hái lượn các thức ăn, rau quả trong rừng. nhà ở của họ hình hộp, bé nỏ. Tường nhà và mái nhà là đất nện. Trước nhà những vựa chứa lương thực (Sắn khô, hạt kê). Vựa có nắp đậy và phủ một chiếc nón rơm bên trên.
Giao thông đi lại trên cao nguyên khó khhawn, đi bộ là chủ yếu. Nhưng nơi gặp vách đá, họ phải dùng thân cây gỗ làm thang hoặc leo lên. Việc vận chuyển hàng hóa cũng dùng sức người. Họ đội hàng hóa trên đầu và khi gặp nhau thì chỉ chào hỏi mà không dám quay lại chào nhau, tay bắt mặt mừng, để giữ thăng bằng vật trên đầu.
Người Đôgôn có những tín ngưỡng và tập tục khác hẳn các bộ tộc khác ở Châu Phi xin kể một số như sau:
Truyền thuyết về vũ trụ và nguồn gốc tộc người Đôgôn: người Đôgôn có nững chuyện truyền khẩu từ đời này snag đời khác Mặt Trăng và Mặt Trời trên bầu có chung một mẹ sinh ra, song còn cha của Mặt Trời và Mặt Trăng thì không rõ.
Nguồn gốc người Đôgôn vốn có từ lâu đời. Thoạt đầu một con rắn thần sinh ra hai người đàn ông. Hai người này lấy vợ và sinh ra con, cháu, chắt và ngày nay bộ tộc người Đôgôn ngày càng đông đúc, sống trên khắp cao nguyên.
Người Đôgôn có một nền văn hóa cao. Họ theo đạo Hồi hoặc Thiên chúa giáo. Trong các hang động họ còn giữ lại nhiều tượng đá từ nhiều đời lưu lại, ví như tượng hai người, biểu tượng cho hai ông tổ của bộ tộc Đôgôn.
Bói toán qua con cáo: Người Đôgôn có tụ lệ bối toán qua con cáo do một thầy phù thủy trong làng phụ trách. Trong làng ai cũng muốn bói việc gì thì trình bày với ông ta từ sáng sớm. Buổi chiều ông xoa một bàn cát phẳng lỳ, vẽ trên đó các hình. Có thể ông đắp lên bàn cát một nắm cát và trên đó ông cắp một vài búp cây nhỏ. Ông ta chia bàn cát ra làm ba phần, phần thứ nhất bới về tình hình làm ăn, xem triển vọng xấu hay tốt, phần thứ hai bói cho tình hình con cái ; phần htuws ba đón về sức khỏe của người mẹ. Sau khi đã vẽ xong các hình, ông phù thủy đặt nhiều hạt lạc trên hình vẽ để nhử con cáo. Tối nào cũng vậy, vào quá nữa đêm co cáo tới “bàn bối toán” ăn lạc và sáng hôm sau, qua những vệt chân đi của con cáo, thầy phù thủy giải mã xem con cáo đã thông báo cho người những điều hay dở ra sao.
Con cáo cũng có những đêm không tới ăn lạc ở trên bàn bói toán vì con người làm nó sợ. Còn dân làng thì kính nở con cáo vì nó giúp cho con người biết được hậu vận và tương lai.
Lễ tang ở bộ tộc Đôgôn: tang lễ người Đôgôn thường kéo dài nhiều ngày và nghi lễ cũng phức tạp.
Mọi người trong gia đình, họ hàng tập trung xung quanh người xấu số. Người chết được cạo trọc đầu, thay quần áo đẹp và sạch sẽ.
Người chết được uống nước, phòng cho linh hồn không bị khát và tốt cho con cháu, người thân trong nhà gặp rủi ro.
Những phụ nữ khóc lóc thảm thiết, còn trẻ đi loan báo cho làng bên cạnh về tin buồn. Mỗi ngày có 5 người đeo mặt nạ, vừa dậm chân, vừa múa, vẻ mặt oai nghiêm, tay cầm chiếc gậy. Múa xong, họ thịt con gà để ăn.
Tang lễ kéo dài trong nhiều ngày tốn kém. Nhiều gia súc bị giết mổ (gà, lợn, dê…)
Tại làng Aru tang lễ lại tiến hành có phàn khác:
Thi thể người chết được tắm rửa sạch sẽ và được bôi các dầu, nhựa thực vật – Ruột người chết được thay thế bằng mật ong trộn lẫn nhựa cây, dầu thơm thực vật – Người chết được quấn vào một chăn lớn rồi đem đi chôn.
Ngoài ra, người Đôgôn còn có tục chôn cất đối với nam giới là nằm sấp, cìn phụ nữ thì nằm ngửa. Người Đôgôn coi đây là một tập tục cầu cho nòi giống phát triển.
Nguyễn Thái – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001